chương 1 còn làm rõ kết cấu của khóa luận. Những nội dung nói trên sẽ là cơ sở quan trọng để triển khai nghiên cứu các nội dung tiếp theo của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Tổng quan về cơ sở lý thuyết và tác động của rủi ro thanh khoản đối với sự ổn định tài chính của ngân hàng là những nội dung chính của chương này. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm cả trong nước và nước ngoài cũng như những khoảng trống và quy trình nghiên cứu cũng được nêu ra để làm cơ sở cho các nội dung nghiên cứu tiếp theo.
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm Tính thanh khoản là khả năng tiếp cận tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền. Như vậy, RRTK là việc ngân hàng không có khả năng cung cấp đủ vốn cần thiết cho các khoản vay được cấp hoặc thanh toán kịp thời các khoản nợ như tiền gửi của khách hàng (Tripe, 1999). Phan Tuyết Trinh (2018) lại xem RRTK là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng không có đủ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời của khách hàng, hay có thể đáp ứng nhưng tổn thất về chi phí sẽ cao hơn.
Nói cách khác, đây là loại rủi ro phát sinh nếu ngân hàng mất khả năng chi trả do không thể chuyển đổi tài sản thanh khoản thành tiền mặt kịp thời hoặc vay đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của mình. Không những thế, nếu không có hành động phòng ngừa và ngăn chặn thì RRTK sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh và khiến vai trò trung gian tài chính của ngân hàng bị đình trệ. Apostolik và cộng sự (2009) định nghĩa RRTK như là việc các ngân hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính - ở đây là nghĩa vụ trả nợ của mình khi đến ngày đáo hạn. Nhấn mạnh việc đánh giá các nguồn tiềm năng có thể làm giảm dòng tiền vào và tăng dòng tiền ra là rất quan trọng.
Skoglund và Chen (2015) đã đề cập rằng rủi ro xuất phát từ thị trường hoặc các sự cố cụ thể của ngân hàng được gọi là RRTK. Beja (1972) lập luận rằng RRTK có thể đặt một ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động vì phải 9 bán tài sản của mình với giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính lúc bấy giờ. Và những thiếu hụt về thanh khoản hay khi RRTK tăng cao sẽ gây nên sự phá sản của nhiều ngân hàng, liên đới cả hệ thống và nền kinh tế quốc gia. Thanh khoản hay khả năng thanh khoản là huyết mạch của mỗi ngân hàng vì tác động đến sự sống còn của bản thân ngân hàng.
Hiểu được tầm quan trọng của thanh khoản, lý thuyết về tài sản thanh khoản đã gợi ý rằng các ngân hàng nên nắm giữ một lượng lớn tài sản thanh khoản để ngăn ngừa và vượt qua các tình huống lớn không lường trước được. Dermine (1986) lại cho rằng RRTK là một khoản chi phí làm giảm lợi nhuận, tổn thất tài chính do phải nắm giữ một lượng lớn tài sản lưu động và bỏ qua cơ hội đầu tư vào các tài sản có tỷ suất sinh lợi cao hơn. Điều này lý giải cho việc vỡ nợ khoản vay làm tăng RRTK chính yếu là do sự suy giảm dòng tiền vào và sự mất giá mà nó gây ra. Nhu cầu thanh khoản có thể phát sinh vào thời điểm bất kỳ và khiến các hoạt động khác của ngân hàng bị ảnh hưởng.
Trong bối cảnh hiện nay thì các vấn đề về thanh khoản dường như đã đóng một vai trò quan trọng trong việc khuếch đại sự đổ vỡ của các ngân hàng. Chính vì thế mà việc thiết lập và duy trì trạng thái thanh khoản phù hợp là điều cần thiết để giảm thiểu việc bán tài sản trong các trường hợp bất lợi, cũng như vay nợ từ Ngân hàng Trung ương và thị trường liên ngân hàng nói chung. Phần trình bày như trên đã nêu ra các quan điểm khác nhau của các học giả về RRTK. Vậy tóm lại, RRTK có thể hiểu là rủi ro phát sinh khi nhu cầu thanh khoản thực tế của khách hàng vượt quá mức mà ngân hàng có thể đáp ứng.
Và điều này buộc ngân hàng phải gia tăng chi phí để huy động nguồn vốn ngắn hạn, dẫn đến mất ổn định tài chính. Bên cạnh đó, rủi ro này chủ yếu xuất phát từ cấu trúc tài sản và các khoản nợ với nguyên nhân chính là sự không phù hợp về thời gian giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra. Cho nên, để có thể giảm bớt sự chênh lệch giữa các dòng tiền thì yêu cầu đặt ra là ngân hàng phải quản lý khả năng thanh khoản một cách 10 chặt chẽ hay duy trì RRTK ở mức an toàn. Tác giả cũng áp dụng cách hiểu về RRTK này cho khóa luận.
Đo lƣờng rủi ro thanh khoản Để nhận diện, theo dõi và kịp thời hỗ trợ khi có những bất ổn trong công tác quản lý thì chúng ta cần có biện pháp để đo lường và xác định RRTK. Có nhiều chỉ số và phương pháp được xây dựng để đo lường RRTK. Khóa luận chọn trình bày 2 chỉ số khá phổ biến mà ta có thể dựa vào để xác định liệu ngân hàng có đang gặp rủi ro thanh khoản hay không: Tỷ lệ an toàn vốn (CAR): Các nhà quản lý và nhà đầu tư sử dụng chỉ số này để đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thực hiện thanh toán các khoản nợ đến hạn. Và theo Hiệp ước Basel thì tất cả các NHTM hay TMCP hoạt động trên thị trường đều được yêu cầu phải đảm bảo một tỷ lệ an toàn vốn nhất định để dự phòng cho những biến cố không lường trước.
Cụ thể tỷ lệ yêu cầu phải ở ngưỡng an toàn là 8% và chỉ khi đạt được mức đề ra thì ngân hàng mới có khả năng thanh toán các khoản nghĩa vụ tài chính đến hạn, ổn định hoạt động tài chính. Đây cũng là mức được coi là đủ để bù đắp những thiệt hại do RRTK, biến động thị trường hoặc các sự kiện không lường trước được. Tại Việt Nam, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng (CAR) được quy định và kiểm soát bởi NHNN thể hiện sự ổn định và tăng trưởng bền vững. Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng ngày càng đa dạng về hình thức và ngày càng lớn mạnh về quy mô, đi đôi với sự phát triển trên là sự gia tăng của các loại rủi ro, mà đặc biệt là RRTK gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các ngân hàng.
Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của tỷ lệ an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel rõ ràng hơn bao giờ hết. Nhận thức được tầm quan trọng, khóa luận cũng sử dụng cách tính CAR theo tiêu chuẩn Basel II. Cách tính CAR được trình bày cụ thể như bên dưới: CAR (2.1) 11 Theo công thức (2.1), CAR được tính bằng cách lấy vốn tự có chia tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng, mà trong đó vốn tự có gồm vốn cấp 1 (vốn chủ sở hữu và dự trữ đã tiết lộ) và vốn cấp 2 (vốn bổ sung cho ngân hàng), tài sản có rủi ro quy đổi thay đổi tùy theo bản chất của các khoản vay bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Ngoài ra, RRTK càng cao đi đôi với sự gia tăng về tỷ lệ an toàn vốn để đối phó kịp thời với các cú sốc bất ngờ.
Do đó, nếu chỉ số này thấp hơn mức yêu cầu và kéo dài trong một thời gian dài có nghĩa là ngân hàng đang gặp RRTK, khả năng huy động vốn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng bị giảm sút. Tỷ lệ thanh khoản (LR): Đây là tỷ số cơ bản thể hiện khả năng thanh toán và sự nhanh chóng trong việc chuyển đổi tài sản thanh khoản thành tiền mặt của ngân hàng. Thanh khoản ổn định cho phép ngân hàng dễ dàng đáp ứng nhu cầu thanh toán của người gửi tiền và giải quyết các cam kết theo hợp đồng tín dụng. Tỷ lệ thanh khoản càng cao thì RRTK càng thấp vì điều đó có nghĩa là ngân hàng nắm giữ nhiều tài sản lưu động trong tổng tài sản, năng lực chi trả đang ở mức tốt, hoạt động của ngân hàng càng được đảm bảo ổn định.
Đặc biệt là khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng, tỷ lệ thanh khoản là rất quan trọng vì vào thời điểm ấy rất khó huy động thanh khoản từ các nguồn khác nhau. Cũng theo thông tư 22/2019/TT-NH thì tỷ lệ thanh khoản của các Ngân hàng TMCP Việt Nam tối thiểu phải là 10%. Cách tính tỷ lệ thanh khoản được trình bày cụ thể như sau: LR (2.2) Trong đó, tài sản thanh khoản của ngân hàng được tính bằng tổng các loại tài sản có tính thanh khoản cao như tiền và các khoản tương đương tiền. Cách tính tỷ lệ thanh khoản theo công thức (2.2) cũng được một số tác giả như Hà Văn Bảo (2019), Võ Tấn Lộc (2021), Nguyễn Thành Long (2022), Ghenimi và cộng sự (2017), Phan Tuyết Trinh (2018) sử dụng trong bài nghiên cứu tìm hiểu về tác động của RRTK đến sự ổn định tài chính các ngân hàng của mình.
Và trong khóa luận, tác giả cũng 12 lựa chọn phương pháp đo lường này để tính toán RRTK. TỔNG QUAN VỀ SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Khái niệm Trong xu thế hiện nay, nhiều Ngân hàng Trung ương và cơ quan quản lý tiền tệ dành sự quan tâm đặc biệt đến ổn định tài chính và duy trì an toàn hệ thống tài chính. Sự ổn định tài chính và phát triển bền vững của các ngân hàng đã trở thành chìa khóa cho sự phát triển kinh tế và xã hội.
Hay nói cách khác, sự vững mạnh và ổn định của ngành ngân hàng được coi là động lực quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính và thực hiện hiệu quả các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Vậy cụ thể ổn định tài chính ngân hàng là gì? Khái niệm ổn định tài chính ngân hàng có thể được giải thích theo nhiều góc độ khác nhau. Crockett (1997) cho rằng sự ổn định về giá của thị trường tài chính, hoặc không có những biến động về giá gây thiệt hại đáng kể đến kinh tế chính là sự ổn định tài chính của các ngân hàng. Rằng sự ổn định tài chính của các ngân hàng đồng nghĩa với việc không có áp lực tài chính cả về hữu hình lẫn vô hình.