Chương 1: Lý luận chung về rủi ro thanh khoản và các nhân tổ tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012- 2021 và luận bàn về kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE RỦI RO THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung liên quan đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tính thanh khoản (Liquidity) của ngân hàng thương mại Theo Basel (2000) định nghĩa “Tính thanh khoản của ngân hàng hay khả năng đáp ứng nguồn vốn cho sự tăng lên của tài sản có và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn”.
Theo Basel (2008) “thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng có thé tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra những khoản tồn thất không thé chấp nhận được”. Đây là yếu tô cực kỳ quan trọng trong việc thể hiện khả năng hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như đối với sự tồn tại của hầu hết các ngân hàng. Từ những khái niệm trên, thanh khoản có thể được hiểu như sau: Xét trong ngắn hạn, thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thé thực hiện thanh toán ngay tại thời điểm nghĩa vụ phát sinh. Trong dai hạn, thanh khoản cho thay khả năng vay đủ vốn dài hạn cùng với lãi suất hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán dài hạn và hỗ trợ việc tăng tài sản.
Nhìn chung, thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn mức tối đa và băng đơn vị tiền tệ được quy định (Duttweiler, R. Nếu tài sản của ngân hàng không thé chuyên thành tiền mặt khi cần dé đáp ứng việc chi trả các khoản tiền gửi, chuyền tiền, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn và các nghĩa vụ phát sinh sẽ rất dé rơi vào tinh trạng vỡ nợ, về lâu dai sé dé dẫn đến nguy cơ phá sản của ngân hàng. Việc quản trị thanh khoản trong ngân hàng bao gồm việc đảm bảo có đủ tiền mặt và có thé vay tiền với chi phí hợp lý nhăm đáp ứng đủ nhu cầu tiền mặt mỗi khi có phát sinh. Đảm bảo khả năng thanh khoản là một trong những hoạt động rất quan trọng đối với các NHTM.
Mỗi quan hệ giữa khả năng thanh toán và tính thanh khoản Khả năng thanh toán là tình trang đủ vốn dé trang trải cho các khoản thua lỗ. Những khoản thua lỗ này có thé phát sinh từ nhiều ly do khác nhau như chi phí quá cao so với doanh thu (rủi ro kinh doanh); các khoản vay có thể không được hoàn trả vì một số khách hàng không có khả năng trả (rủi ro tín dụng); các vị thế mua bán có thể không ôn định,. Theo nghĩa hẹp, khả năng thanh toán là một biểu hiện của tình trạng đủ vốn. Theo nghĩa rộng, khả năng thanh toán đòi hỏi phải có thêm tiền sẵn sàng dé chi trả các khoản thanh toán.
Nói cách khác, cơ sở vốn đổi dao là điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ. Cũng có thé tồn tại một mối liên hệ theo chiều hướng ngược lại. Đề có khả năng thanh khoản, trước hết phải có khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán ở trạng thái dương là tiền đề cho khả năng thanh khoản.
Thanh khoản có sự khác biệt với khả năng thanh toán của NHTM đó là tính chất thời điểm. Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn dé trang trải chi phí. Tuy nhiên, nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Như vậy, một ngân hàng bị thiếu thanh khoản trong khi vẫn còn khả năng thanh toán trong chừng mực hẹp và không kéo dai.
Cung và cầu về thanh khoản Cung về thanh khoản: Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chỉ trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, gồm: Tiền gửi của khách hàng: Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi; Thanh toán nợ của khách hang; Bán các tai sản đang kinh doanh và sử dụng; Vay mượn trên thị trường tiền tệ. Cầu về thanh khoản: Cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm: Khách hàng rút tiền từ tài khoản. Yêu cầu vay vốn từ những khách hàng có chất lượng tín dụng cao.
Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi. Chi phi bằng tiền và thuế xuất hiện khi kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ. Thanh toán cổ tức băng tiền. Đánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng NLP (Net Liquidity Position) của một ngân hàng được xác định như sau: NLP = Tổng cung về thanh khoản — Tổng câu về thanh khoản Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây: Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NLP>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản.
Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc dau tư số vốn thang dư này vào đâu dé mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NLP<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Cân băng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản (NLP=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế. Một số van dé cơ bản về rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm về rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) Theo định nghĩa của Uy ban Basel về Giám sát Ngân hang (1997): “Rui ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng việc giảm nợ phải trả hoặc tài trợ cho việc tăng tài sản. Khi một ngân hàng không đủ thanh khoản, dẫn đến việc ngân hàng đó không thê có đủ tiền, bằng cách tăng nợ phải trả hoặc băng cách chuyên đổi tài sản kịp thời, với chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Decker (2000) định nghĩa về rủi ro thanh khoản cho rằng thanh khoản có thé được phân loại thành hai hình thức: rủi ro thanh khoản tài trợ và rủi ro thanh khoản thị trường. Rủi ro thanh khoản tài trợ là khi ngân hàng không thê đáp ứng nghĩa vụ nợ của mình khi đến hạn thanh toán do không có khả năng thanh lý tài sản hoặc thiếu nguồn tài trợ. Rủi ro thanh khoản của thị trường là rủi ro mà ngân hàng có thé không dé dang bù đắp rủi ro cụ thể nếu không giảm giá thị trường bởi vì thị trường gián đoạn hoặc thông tin thị trường không day đủ Theo ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS 2008), “Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) xảy ra khi các ngân hang thương mại không thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc trở nên không thể tài trợ cho việc gia tăng tài sản và trang trải các cam kết.” Theo Hiệp định Basel III (2013), định nghĩa “Rui ro thanh khoản (Liquidity Risk) xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định, một tài sản tài chính, chứng khoán hoặc hàng hóa nhất định không thé được giao dịch đủ nhanh, đủ mạnh trên thị trường mà không ảnh hưởng đến giá thị trường của nó.” Ở Việt Nam, theo quy định Khoản 14 điều 3 Thông tư 13/2018/TT- NHNN quy định về hệ thong kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài về rủi ro thanh khoản: “là việc ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc ngân hàng thương mai, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả mức chi phí cao hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đặc điểm của rủi ro thanh khoản Thứ nhất, rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) phát sinh khi ngân hàng thương mại thiếu khả năng chi trả tại một thời điểm nào đó hoặc không chuyền đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng huy động hay phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao dé đáp ứng nhu cầu thanh toán, điều này dẫn đến những hậu quả không mong muốn cho ngân hàng.
Thứ hai, rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) xảy ra đồng nghĩa với ngân hàng thương mại đang trong trạng thái thâm hụt thanh khoản (NPL<0). Hay nói cách khác, ngân hàng dang trong tinh trạng thiếu vốn hoạt động, không đủ vốn dé đáp ứng nhu cầu chỉ trả và cho vay đối với khách hàng, cũng như nhu cầu đầu tư cho nền kinh tế. Rui ro thanh khoản xảy ra làm cho ngân hàng thương mại bị tổn that vê cơ hội đâu tư và ảnh hưởng xâu đên hiệu quả kinh doanh của ngân hang. Nguyên nhân xảy ra van dé rủi ro thanh khoản Có ba nguyên nhân chính khiến các ngân hàng phải thường xuyên đối mặt với rủi ro thanh khoản: Thứ nhất, ngân hàng huy động và cho vay với kỳ hạn ngăn, giữ chúng luân chuyền đến sử dụng vốn vay với thời hạn đài hơn.
Do đó, nhiều ngân hang phải đối mặt với việc không khớp thời hạn giữa tài sản có và nợ phải trả. Rất hiém khi dòng tiền ròng của tài sản phù hợp chặt chẽ để trang trai dòng tiền thuần của nợ phải trả. Thực tế là các ngân hàng thường có một tỷ lệ đáng kế khả năng được đặc trưng bởi phải được hoàn trả ngay lập tức nếu tiền gửi cố định có thé được với rút trước hạn. Do đó, các ngân hang phải luôn sẵn sàng thanh khoản.
Thứ hai, mức độ nhạy cảm của tài sản tài chính đối với những thay đổi của lãi suất. Khi lãi suất tăng lên, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền để tìm nơi có tiền gửi khác cao hơn lãi suất. Những người cần tín dụng sẽ hoàn trả, hoặc rút số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận.