chương 1 tác giả đã trình bày khái quát về các vấn đề cần nghiên cứu như mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Ở trong chương này tác giả sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu bao gồm khái quát về ngành thủy sản và các nghiên cứu trước đó để làm cơ sở cho việc nghiên cứu góp phần xác định được các yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của doanh nghiệp, bên cạnh đó việc nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết này giúp nhà quản trị lên kế hoạch nhằm tăng khả năng thanh khoản của doanh nghiệp. Giới thiệu về ngành thủy sản 2. Định nghĩa ngành Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất nhằm lợi dụng những khả năng tiềm tàn về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người.
Ngành thủy sản bao gồm tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển, tiếp thị, mua bán thủy sản và các sản phẩm thủy sản. Các hoạt động thương mại chính của ngành nhằm cung cấp sản phẩm thủy sản cho người tiêu dùng hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào cho những ngành công nghiệp chế biến khác. Bằng những cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cuộc sống của 500 triệu người (tính đến cuối năm 2013) ở các quốc gia đang phát triến phụ thuộc hoàn toàn với nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Đặc điểm của ngành thủy sản Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất độc lập Về mặt lý luận một ngành sản xuất được coi là độc lập khi có các điều kiện như có đối tượng lao động riêng, cố công cụ và phương pháp lao động riêng, có lực lượng lao động chuyên môn hóa thể hiện đó là một ngành nghề nhất định.
Sản xuất thủy sản nước ta đã có từ lâu đời. Nó tồn tại song song với quá trình tồn tại và phát triển của con người, thông qua sức lao động của mình kết hợp với những công cụ lao động thích hợp, con người đã khai thác và nuôi dưỡng các sinh vật, các nguồn lợi phong phú đa dạng sống trong môi trường để chế biến thành thực phẩm và cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác. Tuy nhiên, do tính đặc thù của đối tượng lao động là khả năng tái sinh tự nhiên, tính mùa vụ mà sản GVHD: Đặng Bửu Kiếm 4 SVTH: Lê Nguyễn Long Nhi Các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp ngành thủy sản xuất thủy sản có nhiều nét giống với ngành nông nghiệp. Trải qua thời kỳ phát triển lâu dài cùng với sự tác động của phân công lao động xã hội, ngành thủy sản đã tách ra khỏi nông nghiệp dưới hình thức là nghề nghiệp truyền thống của từng vùng từng địa phương.
Cho đến nay, dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các công cụ lao động, các kỹ thuật sản xuất tiên tiến ngày càng được áp dụng rộng rải vào sản xuất thay thế cho sản xuất nhỏ, thủ công. Từ đó, ngành thủy sản phát triển ngày một vững mạnh, dần dần trở thành ngành sản xuất vật chất độc lập và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, khi nói rằng ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất độc lập hoàn toàn không có nghĩa là tách rời hệ thống kinh tế thủy sản với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Tính độc lập ở đây là độc lập tương đối xét dưới góc độ của hệ thống lớn (kinh tế quốc dân), bao gồm nhiều phân hệ (trong đó có ngành thủy sản) gắn bó chặt chẻ với nhau.
Sự phát triển của ngành thủy sản chịu ảnh hưởng lớn bởi sự phát triển của các ngành khác và nền kinh tế. Ngược lại, ngành thủy sản có sự tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và các ngành kinh tế khác. Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất hỗn hợp, phức tạp và mang tính mùa vụ Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất hỗn hợp Do đối tượng lao động của ngành thủy sản là cá và các sinh vật dưới nước có khả năng tái sinh tự nhiên, nên đi đôi với việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên cần phải nghiên cứu và thực hiện bảo vệ, duy trì và tái tạo nguồn lợi. Tiến hành nuôi trồng và phát triển các sinh vật đó để phục vụ cho nhu cầu sản xuất lâu dài.
Công việc này phần lớn phụ thuộc và các điều kiện tự nhiên, do đó xét về mặt sản xuất thì ngành thủy sản vừa mang tính của sản xuất công nghiệp vừa mang tính của sản xuất nông nghiệp. Từ đó, việc quản lý sản xuất trong ngành thủy sản mang tính chất hỗn hợp. Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất phức tạp Do các đối tượng lao động là các sinh vật sống dưới nước nên trữ lượng khó xác định một cách chính xác, đồng thời các sinh vật có thể di chuyển tự do theo ngư trường không bị ràng buộc phân chia giữa các địa giới hành chính. Bên cạnh đó là các điều kiện khí hậu, thời tiết, dòng chảy, địa hình, thủy văn,… tạo nên tính mùa vụ phức tạp về cả không gian và thời gian.
Từ đó dẫn đến ngành thủy sản hình thành nhiều ngành, nhiều nghề khác nhau. Đối tượng sau khi khai thác được lại có tính chất mau hư hỏng và ươn thối, dẫn đến sản xuất thủy sản phải tiến hành khép kín từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra hay từ khai thác, nuôi GVHD: Đặng Bửu Kiếm 5 SVTH: Lê Nguyễn Long Nhi Các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp ngành thủy sản trồng cho đến việc chế biến, kinh doanh tiêu thụ sản phảm và đầu tư tái tạo nguồn lợi. Do đó, việc tổ chức và quản lý ngành thủy sản mang tính chất đa dạng và phức tạp nhằm phù hợp với phương hướng chung trong việc phát triển ngành, đó là khép kín các khâu chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp theo cơ chế phát triển ngành. Ngành thủy sản là một ngành sản xuất vật chất mang tính mùa vụ Do sự tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường sống và tập tính sống của các đối tượng, các chủng loại động thực vật làm cho các yếu tố sản xuất trong ngành thủy sản không sử dụng hết thời gian trong năm.
Vì vậy công tác tổ chức cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau về kinh tế và tổ chức kỹ thuật để giảm bớt tính bất lợi này. Quá trình phát triển Trong những năm gần đây, ngành Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Giá trị ngoại tệ xuất khẩu của ngành Thủy sản đóng góp vào sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân chiếm tỷ trọng cao và đang trên đà phát triển mạnh với sự ổn định lâu dài. Tỷ trọng của ngành Thủy sản trong khối Nông – Lâm – Ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc luôn tăng qua các năm và trở thành ngành quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam.
Ngành Thủy sản góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, ngành Thủy sản thúc đẩy và cải thiện cuộc sống của người dân ở các vùng ven biển, vùng núi, trung du và Tây nguyên. Đặc biệt, ngành Thủy sản góp phần đảm bảo chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, từ lúc ra đời cho đến những năm giữa thế kỷ trước, nghề cá Việt Nam vẫn là một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, trình độ sản xuất còn lạc hậu và thủ công.
Nhưng kể từ năm 1950, Đảng và Nhà nước ta thấy được tầm quan trọng, sự đóng góp ngày càng lớn của nghề cá Việt Nam cho nền kinh tế quốc dân, cho thấy một cách nhìn mới về nghề cá. Quá trình phát triển ngành Thủy sản có thể chia thành 3 giai đoạn chính: Giai đoạn 1954 – 1960 Kinh tế Thủy sản được chăm lo hơn và dần hình thành phát triển như một ngành kinh tế – kỹ thuật. Đây cũng là giai đoạn mà nền kinh tế miền Bắc được dần khôi phục và phát triển. Với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và các tổ chức nghề cá công nghiệp (Hạ Long, Việt – Đức, Việt – Trung), nhà máy cá hộp Hạ Long được thành lập.
GVHD: Đặng Bửu Kiếm 6 SVTH: Lê Nguyễn Long Nhi Các yếu tố tác động đến tính thanh khoản của các doanh nghiệp ngành thủy sản Giai đoạn 1960 – 1980 - Từ năm 1960 – 1975: Việc thành lập Tổng cục Thủy sản (1960) đã đánh dấu vị trí của ngành Thủy sản như một chỉnh thể của ngành kinh tế – kỹ thuật. Tuy nhiên,vào giai đoạn này, ngành Thủy sản phải đối mặt với nhiều khó khăn bởi đây cũng chính là giai đoạn đất nước có chiến tranh, đòi hỏi sự kết hợp của ngư dân biển nói riêng và cả nước nói chung cùng nhau thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng miền Bắc và đánh giặc Mỹ giải phóng miền Nam”. - Từ năm 1976 – 1980: Đất nước thống nhất tạo một bước tiến để ngành Thủy sản phát triển trên rộng khắp cả nước với sự thành lập Bộ Hải sản (1976) cùng với việc thực hiện 10 năm Di chúc của Bác Hồ. Ngành Thủy sản nhận được nhiều tác dụng rất lớn.
Tuy nhiên, kinh tế thủy sản vẫn giảm sút do hậu quả nặng nề từ chiến tranh, nền kinh tế đang trong quá trình khôi phục và do cơ chế quản lý chưa phù hợp nên làm giảm động lực thúc đẩy sản xuất thủy sản. Giai đoạn 1981 đến nay Bộ Hải sản được tổ chức lại thành Bộ Thủy sản (1981). Ngành Thủy sản bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới – giai đoạn phát triển toàn diện về mọi mặt từ khai thác, nuôi trồng, hậu cần dịch vụ, chế biến và xuất khẩu. Đồng thời, ngành còn đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất đến việc mở rộng hợp tác quốc tế để thúc đẩy sự tăng trưởng.
Năm 1981, sự ra đời của Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Seaprdex Việt Nam và áp dụng cơ thế “tự cân đối, tự trang trải” đã tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển ngành Thủy sản. Vì vậy, ngành Thủy Sản được coi là ngành tiên phong đầu tiên trong quá trình đổi mới, tạo ra bước ngoặc cho sự tăng trưởng phát triển của kinh tế Thủy sản trong thời gian qua.