Chương 1: Tổng quan về sự hài lòng trong công việc Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và mức độ hài lòng về công việc của nhân viên tại Công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại công ty Cổ phần Môi trường và Công trình Đô thị Huế Phần III: Kết luận và Kiến nghị SVTH: guyễn Thị Mỹ Duyên 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị hật Anh PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G I: TỔ G QUA VỀ SỰ HÀI LÒ G TRO G CÔ G VIỆC 1.1 Cơ sở lý luận về sự hài lòng trong công việc 1.1 Một số khái niệm về sự hài lòng trong công việc Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu như người lao động hài lòng với công việc thì năng suất làm việc sẽ tăng lên. Có nhiều nghiên cứu khác nhau về sự hài lòng trong công việc của người lao động từ đó cũng xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau điển hình như : Theo Hoppock (1935) cho rằng sự thỏa mãn với công việc là tổng hợp sự hài lòng về tâm lý, sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ. Theo Weiss (1967) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là thái độ công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Spector (1997) cho rằng sự hài lòng công việc đơn giản là sự yêu thích công việc và khía cạnh công việc và xem sự hài lòng công việc như một biến hành vi.
Bergmann, 1981 (dẫn theo Luddy, 2005) sự hài lòng công việc là do ảnh hưởng của bởi các yếu tố cá nhân người lao động hoặc các tác động của tổ chức đối với các cảm nhận về công việc. Theo James L Price (1997) thì sự hài lòng công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức. Sự hài lòng với công việc đồng thời cũng như định nghĩa như là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng đến công việc họ đang làm (Schermerhorn, Hunt and Osborn, 1997-1998) Theo Locke (1976) thì định nghĩa sự hài lòng trong công việc là “Trạng thái tình cảm lạc quan hay vui vẻ có được từ sự đánh giá công việc của một người hay kinh nghiệm nghề nghiệp của người đó”. Quinn và Staines (1979) thì cho rằng hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc.
Theo Vroom (1964) định nghĩa rằng hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức, thực sự cảm thấy thích thú với công việc. SVTH: guyễn Thị Mỹ Duyên 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị hật Anh Theo Kreitner và Kinicki (2007) sự hài lòng trong công việc chủ yếu phản ánh mức độ cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. N hư vậy, có rất nhiều định nghĩa sự hài lòng công việc của nhân viên được các nhà nghiên cứu đưa ra.
N hìn chung, sự hài lòng của nhân viên là sự đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của họ trong môi trường làm việc. Khi những nhu cầu và mong muốn này được đáp ứng một cách thỏa đáng thì sự hài lòng của nhân viên sẽ tăng lên. Theo Kim Dung (2005), sự hài lòng đối với công việc của nhân viên được định nghĩa và đo lường theo hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng theo các yếu tố thành phần công việc. Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận theo thành phần công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất.
Do đó, cách tiếp cận về sự hài lòng công việc theo các thành phần công việc sẽ được áp dụng trong đề tài nghiên cứu.2 Lợi ích từ sự làm hài lòng trong công việc của nhân viên Sự hài lòng trong công việc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả làm việc của nhân viên. Một nhân viên có kết quả làm việc cao, có tính sáng tạo và khả năng làm việc tốt khi và chỉ khi họ hài lòng đối với công việc hiện tại. Do vậy nghiên cứu sự hài lòng và tìm cách nâng cao sự hài lòng chính là nâng cao kết quả làm việc của nhân viên. Sự quan tâm của các nhà lành đạo, quản lý đối với sự hài lòng trong lao động tập trung vào sự ảnh hưởng của nó đối với việc thực hiện nhiệm vụ của nhân viên.
N hiều nhà nghiên cứu thấy được vấn đề này và đã tiến hành đánh giá các ảnh hưởng của sự hài lòng đến năng suất, sự vắng mặt và sự thuyên chuyển.2 Một số học thuyết liên quan đến sự hài lòng của người lao động 1.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Abraham Maslow (1943) đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. N hu cầu của con người là một cảm giác, một trạng thái về sự thiếu thốn, sự trống trải về mặt tinh thần và vật chất họ mong muốn được đáp ứng. Các nhu cầu này được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao căn cứ SVTH: guyễn Thị Mỹ Duyên 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị hật Anh vào tầm quan trọng và chia thành 5 bậc gồm: nhu cầu sinh lý – nhu cầu về an toàn – nhu cầu về xã hội – nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu được thể hiện mình. Về cơ bản, nhu cầu của con người được chia thành 2 nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.
N hu cầu cơ bản liên quan đến nhu cầu các nhu cầu sinh lý, thể trạng con người, là phương thức tồn tại của họ, là nhu cầu cơ bản nhất của con người cần được đáp ứng. Một khi con người đã được đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ, họ sẽ tiến đến đáp ứng nhu cầu bậc cao. N hu cầu bậc cao thường nghiên cứu về tâm lý của từng nhân viên, nhu cầu này thể hiện rõ ở sự tôn trọng, công bằng, an toàn, đoàn kết, vui vẻ. N hu cầu cơ bản quan trọng hơn nhu cầu bậc cao, vì nếu như nhu cầu cơ bản không được đáp ứng thì sẽ không xuất hiện nhu cầu bậc cao.
Tháp nhu cầu Maslow được phân thành 5 bậc nhu cầu cụ thể. Trong đó, nhu cầu cơ bản gồm có nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. Còn nhu cầu bậc cao gồm có nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện mình.1 Tháp nhu cầu Maslow (@guồn: https://fiexmarketing.com/marketing/thap-nhu-cau-maslow/) * @hu cầu sinh lý: là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. N hững nhu cầu thuộc mức độ cao hơn phía trên sẽ không thể xuất hiện nếu nhu cầu cơ bản này chưa được thỏa mãn.
SVTH: guyễn Thị Mỹ Duyên 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị hật Anh * @hu cầu an toàn: là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình. Khi các nhu cầu ở mức độ sinh lý đã được thỏa mãn, con người hướng tới những nhu cầu về sự an toàn của bản thân. Họ mong muốn được bảo vệ tính mạng khỏi các nguy hiểm và sự an toàn, ổn định trong đời sống. N hu cầu được an toàn ở đây không chỉ là an toàn về thể chất và sức khỏe, nó còn mong muốn được an toàn về tinh thần về điều kiện tài chính của bản thân.
* @hu cầu xã hội: là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó. Ở cấp độ này, những nhu cầu thuộc về tình cảm chính là yếu tố tác động và chi phối hành vi của con người. Con người sẽ xuất hiện những nhu cầu về xã hội khi đã được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu cơ bản về sinh lý và sự an toàn. * @hu cầu được tôn trọng: là những nhu cầu về tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, tự đánh giá và được tổ chức đánh giá.
N hu cầu này được xếp vào loại nhu cầu bậc cao con người. N ó được thể hiện qua hai khía cạnh: việc được nể trọng, kính mến thông qua sự thành công của bản thân và lòng tự trọng, cảm nhận, trân quý chính mình. Khi nhu cầu này được thỏa mãn, con người có xu hướng trở nên tự tin hơn vào năng lực của bản thân và mong muốn được cống hiến nhiều hơn. * @hu cầu thể hiện bản thân: là những nhu cầu về chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, mong muốn phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ.
Đây chính là mức độ nhu cầu cao nhất mà Maslow đề cập đến: khẳng định bản thân. Khi tất cả những bậc nhu cầu ở dưới đã đáp ứng con người tiến tới một tầm cao mới, mong muốn khai phá những tiềm năng còn Nn chứa và thể hiện đúng con người mình. Đó là khả năng tận dụng tối ưu và khai thác tối đa tài năng nhằm mục đích hoàn thiện bản thân. Trong doanh nghiệp, các nhu cầu cơ bản cần được đáp ứng như trả lương đầy đủ, công bằng, đảm bảo các khoản phúc lợi hợp lý như tiền thưởng thi đua hằng tháng, thường xuyên có các chuyến đi du lịch, nghỉ dưỡng, thăm hỏi đau ốm,.
Đáp ứng nhu cầu an toàn khi nhân viên làm việc tại doanh nghiệp, đảm bảo điều kiện làm việc tốt, công việc được tiến hành ổn định, đảm bảo môi trường làm việc sạch sẽ không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên trong doanh nghiệp. Để đáp SVTH: guyễn Thị Mỹ Duyên 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS Trần Thị hật Anh ứng nhu cầu xã hội về các mối quan hệ, cần tạo điều kiện phát huy tinh thần đoàn kết của nhân viên, tạo cơ hội giao lưu giữa các bộ phận. doanh nghiệp cũng cần có hoạt động tổ chức nhân dịp kỷ niệm hoặc các dịp lễ trong năm.