Mở đầu Giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu để xem xét các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng và tính mới của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình ài cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ bảo trì, bảo dƣỡng của Toyota Lý Thƣờng Kiệt. Lƣợc khảo một số mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ nói chung và dịch vụ bảo trì, bảo dƣỡng nói riêng. Trên cơ sở đó xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Tổng quan về vấn đề nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, xác định biến quan sát và bảng câu hỏi, phƣơng pháp chọn mẫu và thu thập thông tin, phƣơng pháp xử lý dữ liệu định lƣợng. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bài tổng quan về công ty Toyota Lý Thƣờng Kiệt, chức n ng và nhiệm vụ của công ty, phân tích thứ cấp về thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ bảo trì, bảo dƣỡng tại công ty và kết quả khảo sát định lƣợng. 5 Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tóm lƣợc kết quả nghiên cứu, đề xuất hàm ý nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Đồng thời chỉ ra hạn chế của luận v n và hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
6 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chƣơng 1, tác giả đã trình ài lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Qua đó giúp cho ngƣời viết hệ thống lại và đƣa ra phƣơng pháp nghiên cứu, xác định ý ngh a thực tiễn của đề tài cũng nhƣ xác định kết cấu gồm 5 chƣơng của luận v n. 7 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về bảo trì, bảo dưỡng Khái niệm bảo trì Theo Toyota (2019). Những hoạt động hoặc những biện pháp kỹ thuật có xu hƣớng khắc phục các hỏng hóc (thay thế cụm máy hoặc các chi tiết máy, sửa chữa phục hồi các chi tiết máy có khuyết tật…) nhằm khôi phục khả n ng làm việc của các chi tiết, tổng thành của ô tô đƣợc gọi là bảo trì.
Khái niệm bảo dƣỡng Theo Toyota (2019). Những hoạt động hoặc những biện pháp kỹ thuật có xu hƣớng làm giảm cƣờng độ hao mòn chi tiết máy, phòng ngừa hỏng hóc ( ôi trơn, điều chỉnh, siết chặt, lau chùi…) và kịp thời phát hiện các hỏng hóc (kiểm tra, xem xét trạng thái, sự tác động các cơ cấu, các cụm, các chi tiết máy) nhằm duy trì trình trạng kỹ thuật tốt của xe trong quá trình sử dụng đƣợc gọi là bảo dƣỡng ô tô.2 Khái niệm dịch vụ và các đặc trưng của dịch vụ Khái niệm dịch vụ Theo Kotler và Armstrong (2004): dịch vụ là một hình thức của sản phẩm mà đã bao gồm trong những hoạt động, lợi ích hay sự thỏa mãn mang lại cho việc bán hàng điều mà vô hình và khách hàng không thể hoặc không muốn tự thực hiện đƣợc. Theo Gronroos (1984): dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhƣng không cần thiết, diễn ra trong các mối tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ đƣợc cung cấp nhƣ là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng. 8 Tóm lại, dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh.
Có rất nhiều cách định ngh a về dịch vụ nhƣng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Các đặc trƣng của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác nhƣ: (1) Tính vô hình, (2) Tính không đồng nhất, (3) Tính không thể tách rời và (4) Tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc, có những nét đặc trƣng riêng mà hàng hóa hữu hình không có.3 Chất lượng dịch vụ Chất lƣợng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định ngh a khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhƣng ản chất của chất lƣợng dịch vụ nói chung đƣợc xem là những gì mà khách hàng cảm nhận đƣợc. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lƣợng dịch vụ cũng khác nhau.
Theo Armand Feigen aum (1945) “Chất lƣợng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, đƣợc đo lƣờng dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể đƣợc nêu ra hoặc không nêu ra đƣợc ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trƣờng cạnh tranh”. Theo quan điểm của Gronroos (1984) cho rằng, chất lƣợng dịch vụ đƣợc đánh giá trên hai khía cạnh: chất lƣợng kỹ thuật và chất lƣỡng kỹ n ng. Chất lƣợng kỹ thuật liên quan đến những gì đƣợc phục vụ còn chất lƣợng chức n ng nói lên chúng đƣợc phục vụ nhƣ thế nào. 9 Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào ngƣời cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc khách hàng.
Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có sự giao thoa giữa chất lƣợng kỹ thuật và chất lƣợng chức n ng. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định ngh a và đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ. Lấy ví dụ, Lehtinen (1982) cho là chất lƣợng dịch vụ phải đƣợc đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Tuy nhiên, khi nói đến chất lƣợng dịch vụ, chúng ta không thể nào không đề cập đến đóng góp rất lớn của Parasuraman & ctg (1988, 1991).
Parasuraman & ctg (1988, trang 17 tác phẩm “SERVQUAL: a multiple item scale for measuring customer perceptions of service quality”) định ngh a chất lƣợng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của ngƣời tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này đã khởi xƣớng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lƣợng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lƣợng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL đƣợc điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cuối cùng thang đo SERVQUAL bao gồm 22 biến để đo lƣờng n m thành phần của chất lƣợng dịch vụ, đó là: độ tin cậy (relia ility), tính đáp ứng (responsiveness), tính đảm bảo (assurance), phƣơng tiện hữu hình (tangibles) và sự đồng cảm (empathy).
Parasuraman & ctg (1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lƣợng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể đƣợc ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng của chúng. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã kiểm định thang đo này với nhiều loại hình dịch vụ cũng nhƣ tại nhiều quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy các thành phần của chất lƣợng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ và từng thị trƣờng khác nhau (Bojanic, 1991; Cronin & Taylor, 1992; Dabholkar & ctg, 1996; Lassar & ctg, 2000; Mehta & ctg, 2000; Nguyễn & ctg, 2003).4 Sự hài lòng Khách hàng là một cá nhân hay một đơn vị nhận đƣợc kết quả của một tiến trình dựa trên hệ thống (Ogunnaike, 2011).
Oliver (1980) đã xem xét sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch hay sản phẩm của một tổ chức bao gồm 2 quá trình nhỏ tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng: kì vọng về dịch vụ trƣớc khi mua và cảm nhận của họ sau khi trải nghiệm. Trong những tình huống cụ thể, những điều khách hàng ngh trƣớc khi sử dụng dịch vụ có thể mâu thuẫn với những gì họ thực sự trải nghiệm trong và sau khi sử dụng sản phẩm/ dịch vụ. Cũng theo quan điểm này, Kotler và Armstrong (2004) cho rằng sự hài lòng khách hàng là “chìa khóa” ảnh hƣởng đến hành vi mua của họ trong tƣơng lai, sự hài lòng của khách hàng là cảm giác hài lòng của cá nhân kết quả từ việc so sánh những biểu hiện thực tế cảm nhận đƣợc từ sản phẩm/dịch vụ với những mong đợi của họ và biểu hiện của sản phẩm/dịch vụ thấp hơn mong đợi sẽ gây ra sự không hài lòng, nếu biểu hiện của sản phẩm/dịch vụ cao hơn mong đợi sẽ tạo ra sự yêu thích đối với sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Đối với l nh vực dịch vụ, sự hài lòng đƣợc coi cảm xúc của khách hàng sau khi trải nghiệm một dịch vụ cụ thể, từ đó hình thành thái độ của cá nhân liên quan đến dịch vụ đƣợc cung cấp (Oliver, 1981).
Sự phản hồi về cảm xúc sau khi trải nghiệm sẽ hình thành sự hài lòng hoặc không hài lòng đối với dịch vụ đƣợc cung cấp. Nhƣ vậy, điều quan trọng là phải thỏa mãn khách hàng vì hiện nay hầu hết họ có nhiều thông tin, họ nhanh chóng bắt kịp các xu hƣớng hiện tại về công nghệ, có nền tảng giáo dục tốt và đòi hỏi ngày càng cao hơn về các sản phẩm và dịch vụ mà họ quan tâm. Có nhiều khái niệm về sự hài lòng, nhìn chung tất cả các định ngh a về sự hài lòng của khách hàng đều mô tả sự hài lòng nhƣ là một trạng thái tâm lý, sự hài lòng luôn gắn với các yếu tố: tình cảm/ thái độ đối với nhà cung cấp dịch vụ; Nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu, mong đợi của khách hàng và khách hàng sẵn sàng tiếp tục sử dụng sản phẩm/dịch vụ trong tƣơng lai cũng nhƣ giới thiệu cho ngƣời quen sử dụng.