Chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, qua đó giúp cho tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu và nêu ra ý nghĩa thực tiễn của luận văn, cuối cùng thể hiện kết cấu 5 chương của luận văn. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm chung 2.1 Sự thỏa mãn và sự thỏa mãn công việc Eisenblatt (2002) cho rằng một người có được sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí điều đó là gọi sự thỏa mãn và đó là một trạng thái tinh thần. Một cách khác, một người với trạng thái chấp nhận hoàn cảnh trong hạnh phúc cũng được gọi là sự thỏa mãn. Sự thỏa mãn công việc được thể hiện bởi thái độ và hành vi tích cực tại nơi làm việc của người lao động (Vroom, 1964).
Trong các tổ chức kinh tế đã có rất nhiều nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc của người lao động và được coi là quan trọng từ góc nhìn về kinh tế, quản lý, đạo đức kinh doanh (Belias et al. Sự thỏa mãn công việc là mức độ người lao động yêu thích công việc, thái độ của người lao động dựa trên nhận thức tích cực hay tiêu cực về công việc của họ (Ellickson và Logsdon, 2002). Sự thỏa mãn công việc là cách người lao động cảm nhận đối với công việc, thái độ của họ đối với công việc (Spector, 2006). Sự thỏa mãn công việc của người lao động là biểu hiện thông qua phong cách làm việc, tính kỷ luật, ổn định trong công việc (Hajdukova et al., 2015) Kết quả của việc đánh giá về môi trường làm việc đáp ứng nhu cầu của người lao động như thế nào là sự thỏa mãn công việc của người lao động (Saner và Eyupoglu, 2015).
Sự thỏa mãn của người lao động được thể hiện qua cảm xúc, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đối với nơi làm việc của người họ (Munir và Rahman, 2016). 7 Sự thỏa mãn công việc là trung thành với công việc, quyết định nói ra cảm xúc hoặc cảm giác về công việc, đóng góp hay không đóng góp cho công việc (Munir và Rahman, 2016). Có rất nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn công việc của người lao động, khi nghiên cứu về vấn đề này các tác giả đã lý giải theo nhiều cách khác nhau và theo góc độ khác nhau. Các khái niệm này đều tập trung vào lý giải cảm xúc, hành động của người lao động khi chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài tác động khi làm việc.
Nói tóm lại sự thỏa mãn công việc là cảm giác thoải mái dễ chịu khi tham gia làm việc của người lao động và sự thỏa mãn này cao hay thấp là tùy thuộc vào mức độ đáp ứng các kỳ vọng của người lao động.2 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu sự thỏa mãn công việc của người lao động Bhardwaj et al. (2020) cho rằng những người lao động thỏa mãn công việc có tác động tích cực đến hiệu suất và sản lượng của công ty. Việc thỏa mãn của người lao động quyết định lợi thế cạnh tranh của công ty, là động lực chính tạo nên giá trị của công ty (Edmans, 2011). Người lao động thỏa mãn công việc thường dùng phần lớn thời gian để làm việc và cống hiến cho tổ chức.
Họ làm việc với năng suất và chất lượng, hiệu quả hơn, đặc biệt khi thành quả có liên kết với phần thưởng. Họ cũng sẽ gắn bó hơn và có tinh thần trách nhiệm cao hơn với công ty. Họ ít có khả năng bỏ việc, vắng mặt hay đi trễ, ăn cắp hay tham gia các hành động bạo lực (Văn, 2018). Sự thỏa mãn công việc ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều khía cạnh liên quan đến công việc như hiệu quả, năng suất, tỷ lệ vắng mặt, ý định nghỉ việc, ý định quay lại làm việc (Togia et al.
Vì vậy việc nghiên cứu sự thỏa mãn của người lao động tại một công ty phải được nghiên cứu kỹ lưỡng và thường xuyên, vì điều này có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty.3 Người lao động Người lao động là người làm công nhận lương hoặc được trả lương theo sản phẩm. Họ đóng góp sức lao động, chuyên môn để tạo ra sản phẩm cho người chủ hoặc chủ doanh nghiệp (người sử dụng lao động) và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động được thỏa thuận theo hợp đồng lao động (Davidov, 2005).2 Lý thuyết liên quan 2.1 Thuyết sự động viên Frederick Winslow Taylor (1915) Lý thuyết này để cập đến việc thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm làm ra và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của người lao động. Ngoài ra, công việc sẽ đạt được hiệu suất tối ưu khi người lao động hoạt động theo dây chuyền sản xuất và được xây dựng định mức thời gian cho công việc.
Các cấp quản lý được phân biệt và phân chia công việc khác nhau. Phân biệt giữa quản trị và sản xuất. Khi thực hiện tốt các nội dung trên, năng suất lao động sẽ tăng, lợi nhuận tăng, thu nhập của người lao động tăng. Khi một người lao động làm việc, họ đều mong muốn được trả lương, thưởng thỏa đáng.
Khi có được những yếu tố này người lao động sẽ có được cảm nhận thỏa mãn công việc.2 Thuyết cấp bậc nhu cầu Abraham Maslow (1943) Maslow (1943) đưa ra tháp nhu cầu là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của ngành quản trị kinh doanh, đặc biệt là ứng dụng trong quản trị nhân sự. Maslow (1943) cho rằng nhu cầu của con người được chia làm năm tầng, được sắp xếp như hình kim tự tháp. Tầng 1: Các nhu cầu về thể chất. Tầng 2: Các nhu cầu về an toàn.
Tầng 3: Các nhu cầu về thể hiện tình cảm. Tầng 4: Nhu cầu được quý trọng, kính mến. Tầng 5: Nhu cầu thể hiện bản thân. Theo lý thuyết này con người phải thỏa mãn nhu cầu bậc thấp mới tiếp đến bậc cao hơn.
Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống… họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng. Tuy nhiên tùy theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn. 9 Về cơ bản một người khi làm việc, các khoản thu nhập trước tiên đều sử dụng vào mục đích phục vụ thỏa mãn nhu cầu tầng 1 của bản thân và gia đình. Nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn thì người lao động mới suy nghĩ đến các yếu tố khác như mối quan hệ, điều kiện làm việc, sự tôn trọng hay thăng tiến.
Sau khi động viên người lao động để thỏa mãn nhu cầu về thể chất, các nhà quản trị cần chú ý đến các nhu cầu tinh thần ở cấp cao hơn. Sự thỏa mãn tinh thần có mối liên quan chặt chẽ với năng suất và kết quả lao động. Vai trò của nhà quản trị, mối quan hệ của đồng nghiệp, điều kiện làm việc đóng vai trò lớn trong việc thỏa mãn các nhu cầu cao hơn của người lao động.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow (1943) 2.3 Thuyết kì vọng Victor Vroom (1964) Thuyết kì vọng là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết quản trị nhân sự, bổ sung cho lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow (1943). Vroom (1964) cho rằng con người sẽ làm việc dựa trên những mong đợi về một kết quả nào đó hay sự hấp dẫn của kết quả đó, lí giải tại sao con người lại có động lực để 10 nỗ lực hoàn thành công việc.
Thuyết kì vọng của Vroom được xây dựng theo công thức: Hấp lực x Mong đợi x Phương tiện = Động lực làm việc Hấp lực (phần thưởng) = sức hấp dẫn cho một mục tiêu nào đó Mong đợi (thực hiện công việc) = niềm tin của nhân viên rằng nếu nỗ lực làm việc thì nhiệm vụ sẽ được hoàn thành Phương tiện (niềm tin) = niềm tin của nhân viên rằng họ sẽ nhận được đền đáp khi hoàn thành nhiệm vụ Thu nhập, thăng tiến, phần thưởng, niềm tin hoàn thành công việc tạo ra động lực làm việc cho người lao động, khả năng hoàn thành công việc rất cao. Nếu một người lao động tin rằng khi làm việc tốt, đúng tiến độ, được trả lương cao, có phần thưởng nghĩa là người lao động này có mức mong đợi cao. Những điều kiện này đạt được sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn hơn trong công việc của người lao động.4 Thuyết ERG Clayton Alderfer (1969) Alderfer (1969) đưa ra thuyết ERG (Existence: tồn tại, Relatedness: quan hệ và Growth: phát triển), là một sự bổ sung, được coi là phiên bản đơn giản lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow (1943), còn được biết đến dưới cái tên “Thuyết nhu cầu Tồn tại/Quan hệ/Phát triển”. Thuyết ERG đưa ra 3 kiểu nhu cầu chính của con người: Nhu cầu tồn tại: Ước muốn khỏe mạnh về thân xác và tinh thần, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu căn bản để sinh tồn như các nhu cầu sinh lý, ăn, mặc, ở, đi lại, đào tạo phát triển…và nhu cầu an toàn.
Nhu cầu giao tiếp: Ước muốn thỏa mãn trong mối quan hệ với mọi người. Mỗi người đều có những ham muốn thiết lập và duy trì các mối quan hệ cá nhân khác nhau. Ước tính một người thường bỏ ra khoảng phân nửa quỹ thời gian để giao tiếp với các quan hệ mà họ hướng tới. 11 Nhu cầu phát triển: Ước muốn tăng trưởng và phát triển cá nhân trong cả cuộc sống và công việc.
Các công việc, chuyên môn và cao hơn nữa là sự nghiệp riêng sẽ đảm bảo đáp ứng đáng kể sự thỏa mãn của nhu cầu phát triển. Trong 3 cấp độ tăng dần Tồn tại/Quan hệ/Phát triển phù hợp với nhu cầu của một người lao động, họ cần thu nhập để giải quyết vấn đề tồn tại, kế tiếp họ vẫn cần mối quan hệ của đồng nghiệp lẫn mối quan hệ với cấp trên và cuối cùng là được đào tạo, được thăng tiến trong công việc. Đây là các yếu tố góp phần tạo nên sự thỏa mãn của người lao động.5 Thuyết thành tựu David Mc Clelland (1988) Clelland (1988) đã đóng góp vào quan niệm động cơ thúc đẩy bằng cách xác định 3 loại nhu cầu thúc đẩy con người trong tổ chức như sau: Nhu cầu về quyền lực: là nhu cầu tác động lên người khác, tới hoàn cảnh, kiểm soát và thay đổi hoàn cảnh. Nhu cầu về liên kết: là các nhu cầu về quan hệ xã hội, quan hệ giúp đỡ qua lại với nhau.
Nhu cầu về thành tích: là nhu cầu vươn tới thành tựu và thắng lợi.