chương 1 nghiên cứu còn trình bày phạm vi thực hiện của báo cáo cũng như ý nghĩa và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận Trong nội dung chương 2 bài viết trình bày cơ sở lý luận về hành vi NTDvà quyết định mua của người tiêu dùng thông qua các khái niệm về hành vi tiêu dùng và lý thuyết về quyết định mua. Nghiên cứu dựa trên một số mô hình đã được nhiều tác giả nghiên cứu trước đó để đề xuất một số mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNT của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 5 yếu tố: Quyền lợi khách hàng; Dịch vụ khách hàng; Phí bảo hiểm; Nhân viên tư vấn; Thương hiệu công ty. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và định lượng.
Dựa trên các nghiên cứu trước đó tác giả xây dựng thang đo cho mô hình với 20 biến quan sát để đo lường các biến độc lập của mô hình và 4 biến quan sát để đo lường biến phụ thuộc của mô hình. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá kết hợp với hồi quy tuyến tính đa biến để kiểm định các giải thuyết của mô hình. Chương 4: Kết quả phân tích Trong nội dung chương 4 bài nghiên cứu trình bày vê thực trạng ngành BHNT ngày nay. Tiến hành phân tích thống kê mô tả, nhân tố khám phá, hồi quy tuyến tính đa biến để kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu cho 5 yếu tố tác động đến quyết định tham gia 6 BHNT của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Quyền lợi khách hàng; Dịch vụ khách hàng; Phí bảo hiểm; Nhân viên tư vấn; Thương hiệu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNT của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao quyết định tham gia BHNT của khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó nghiên cứu còn trình bày một số hạn chế của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ. Khái niệm về Bảo hiểm nhân thọ. Tại Việt Nam, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam năm 2011, bảo hiểm nhân thọ (BHNT) được hiểu theo hai phương diện: Pháp lý và kỹ thuật : • Về mặt pháp lý: BHNT là HĐ, trong đó người tham gia BH sẽ đóng phí BH và công ty BH sẽ cam kết trả cho NTH một khoản tiền nhất định theo thoả thuận HĐ khi người được bảo hiểm tử vong hoặc sống đến một thời điểm nhất định ghi rõ trên HĐ. • Về mặt kỹ thuật: BHNT là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà sự thi hành cam kết dựa vào tuổi thọ con người.
Tóm lại, BHNT là sự cam kết giữa công ty BH và người tham gia BH. Khi có sự kiện BH xảy ra với người tham gia BH, công ty BH sẽ trả cho người tham gia BH một khoản tiền nhất định. Người tham gia BH thì chịu trách nhiệm đóng phí BH đầy đủ và đúng hạn. BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến tính mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người (Luật Dương Gia, 2014).
Nguồn gốc về Bảo hiểm. Rủi ro chính là nguồn gốc phát sinh nhu cầu bảo hiểm. Trong cuộc sống và lao động, con người mặc dù đã chú ý ngăn ngừa và đề phòng hạn chế tổn thất nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra. Dịch vụ BHNT đầu tiên ra đời vào năm 1584 tại Anh, nhưng đã bị phản đối do được cho là hình thức lạm dụng cuộc sống của con người.
Mãi đến năm 1759, công ty BHNT đầu tiên được thành lập tại Châu Mỹ và năm 1762 công ty BHNT Equiable tại Anh được thành lập và bán sản phẩm của mình cho khắp mọi người dân. Vào năm 1987 công ty BHNT đầu tiên, công ty Bảo Việt đã được thành lập và lập đề án “Bảo hiểm nhân thọ và việc vận dụng vào Việt Nam”. Đến năm 1990, Bộ Tài chính cho 8 phép công ty Bảo Việt triển khai dịch vụ ”Bảo hiểm sinh mạng con người thời hạn 1 năm”. Nhằm đáp ứng những yêu cầu về quản lý quỹ bảo hiểm nhân thọ.
Bộ Tài chính đã ký quyết định số 568/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996 thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt. Đây được xem là bước ngoặt phát triển cho ngành bảo hiểm Việt Nam (Bộ Tài chính, 1996). Phương pháp quản trị rủi ro. Né tránh rủi ro: Tìm cách tránh, loại trừ hoặc hạn chế tối đa khả năng xảy ra rủi ro (ví dụ: hạn chế đi lại tránh tai nạn giao thông, không chọn các nghề nguy hiểm để tránh tai nạn lao động).
Kiểm soát rủi ro: Áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tối đa tổn thất có thể xảy ra (ví dụ: hạn chế tổn thất hoả hoạn bằng cách mua bình cứu hoả). Chấp nhận rủi ro: Người bị tổn thất tự nhận tổn thất đó. Bao gồm chấp nhận chủ động (ví dụ: tạo lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất) và chấp nhận bị động (ví dụ: tới khi xảy ra rủi ro thì mới tìm nguồn tài chính để bù đắp). Chuyển giao rủi ro: Người được bảo hiểm chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm để đổi lấy sự an toàn về tài chính trong suốt thời gian chuyển giao.
Chuyển giao rủi ro là nguyên lý cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Phân loại rủi ro. Rủi ro được bảo hiểm: Những rủi ro về thiên tai, tai nạn, sự cố bất ngờ được người BH chấp nhận BH trên cơ sở yêu cầu của HĐBH (ví dụ: ốm đau, tai nạn, tử vong, hoả hoạn,…). Rủi ro loại trừ: Những rủi ro mà người BH không chấp nhận bồi thường hoặc trả tiền BH khi xảy ra sự kiện BH (ví dụ: tử vong do bị tử hình).
Ngoài phạm vi bảo hiểm theo tiêu chuẩn, Người bảo hiểm có thể thoả thuận với. Người được bảo hiểm mở rộng các điều kiện, điều khoản với điều kiện Người được bảo hiểm phải trả thêm phí cho Người bảo hiểm. Đặc tính của rủi ro được bảo hiểm. Tổn thất phải mang tính chất ngẫu nhiên.
Tổn thất phải đo được, định lượng được về tài chính (ví dụ: tài sản bị hư hỏng thì giá trị thiệt hại là bao nhiêu, người bị rủi ro thì căn cứ vào giá trị của hợp đồng). Phải có số lớn: Nhiều người cùng tham gia một sản phẩm bảo 9 hiểm (nếu chỉ có ít người tham gia thì phí bảo hiểm sẽ cực kì lớn hoặc doanh nghiệp bảo hiểm không đủ bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra). Không trái với chuẩn mực đạo đức xã hội. Các loại hình BHNT.
Nhằm đa dạng hoá các sản phẩm phục vụ nhu cầu càng cao của khách hàng, các công ty BHNT đã đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm BH khác nhau nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng, trong đó bao gồm 5 loại hình BH cơ bản là: BH tử kỳ, BH sinh kỳ, BH trọn đời, BH trợ cấp hưu trí, BHNT hỗn hợp. BH từ kỳ (BH sinh mạng có thời hạn). Là loại hình BH được ký kết cho trường hợp cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của HĐ. Số tiền BH được thanh toán trong trường hợp NĐBH tử vong trong thời hạn BH.
Nếu NĐBH sống qua thời hạn được BH sẽ không được thanh toán bất kỳ khoản gì. Độ dài của thời hạn BH rất khác nhau. BH sinh kỳ. Là loại hình BH cho trường hợp sống của người được bảo hiểm (NĐBH).
Khi NĐBH sống đến một thời điểm đã được quy định trong hợp đồng (HĐ), công ty BH sẽ chi trả số tiền BH. BHNT trọn đời. Là loại hình BH có thời hạn dài và số tiền BH chỉ được chi trả khi NĐBH chết hoặc sống đến năm 99 tuổi tùy thuộc vào sự kiện nào đến trước. Trong khi BH sinh mạng có thời hạn chỉ bao gồm yếu tố rủi ro và không trả them bất kỳ quyền lợi nào.
BHNT trọn đời kết hợp yếu tố tiết kiệm và bảo vệ. Hiện nay, hầu hết các sản phẩm chính của các công ty BHNT ở Việt Nam đều là loại hình BHNT trọn đời. BH trợ cấp hưu trí. Là loại hình BH mà công ty BH có trách nhiệm chi trả trợ cấp định kỳ cho NĐBH khi người BH về hưu cho đến khi chết.
Người ta thường kết hợp BH trợ cấp hưu trí với BH 10 hưu trí. Khi về hưu, NĐBH nhận số tiền BH của HĐ BH hưu trí và mua ngay BH trợ cấp hưu trí để đảm bảo cuộc sống khi về hưu cho đến khi chết. BHNT hỗn hợp. Là loại hình BH mà số tiền BH được trả không quan tâm đến NĐBH có bị chết trong thời hạn BH hay không với điều kiện NĐBH phải đóng phí theo quy định.
Mỗi hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) đều quy định ngày hết hạn BH. Vào ngày đó, công ty BH sẽ trả số tiền BH cho NĐBH nếu anh ta còn sống. Nếu NĐBH chết trước khi hết hạn HĐ thì số tiền BH sẽ được chi trả cho người thụ hưởng vào ngày NĐBH bị chết. BHNT hỗn hợp kết hợp giữa bảo vệ và tiết kiệm.
Lý thuyết về hành vi của người tiêu dùng.Engel và cộng sự (1973), hành vi tiêu dùng là tất cả những hoạt đông mua sắm, tiêu dùng, sử dụng, hay loại bỏ những sản phẩm/dịch vụ. Nó bao gồm cả những hoạt động trước và sau khi xảy ra quyết định đó. Hành vi tiêu dùng là hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng, vứt bỏ sản phẩm/dịch vụ (Phillip Kotler, 2006). Hành vi người tiêu dùng chính là hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm/dịch vụ mà họ mong đợi nhằm thoải nhu cầu của họ (Peter D.
Hành vi tiêu dùng của con người bao gồm các tương tác giữa nhận thức, sự cảm thụ và hành động với những tác động của yếu tố môi trường (Vũ Huy Thông, 2010). Hành vi của NTD là cách thức mà NTD sẽ thực hiện đưa ra quyết định sử dụng các tài sản (tiền bạc, thời gian, công sức,…) liên quan đến việc mua sắm, sử dụng hàng hoá/dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân (Trần Minh Đạo, 2009). Hành vi của NTD luôn bị chi phối bởi các yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó được Philip Kotler hệ thống qua mô hình sau: 11 Hình 2.