Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật u màng não tại Đại học Y Dược TP.HCM

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật u màng não mặt sau xương đá, cung cấp thông tin hữu ích cho chuyên gia y tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

1.2. GIẢI PHẪU HỌC VÙNG GÓC CẦU TIỂU NÃO

1.3. SINH LÝ BỆNH U MÀNG NÃO

1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH HỌC CỦA U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

1.5. GIẢI PHẪU BỆNH U MÀNG NÃO

1.6. ĐIỀU TRỊ U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

1.7. THEO DÕI SAU PHẪU THUẬT VÀ TÁI PHÁT U

1.8. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM THU THẬP SỐ LIỆU

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.4. TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU

2.5. CỠ MẪU NGHIÊN CỨU

2.6. BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

2.7. PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ ĐO LƯỜNG, THU THẬP SỐ LIỆU

2.8. PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU

3.2. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

3.3. MÔ TẢ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU

4.2. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CỦA U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

4.3. MÔ TẢ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG KẾT QUẢ PHẪU THUẬT U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẫu thuật u màng não và các yếu tố ảnh hưởng

Phẫu thuật u màng não (UMN) là một trong những phương pháp điều trị chính cho các khối u trong hệ thần kinh trung ương. U màng não mặt sau xương đá (UMNMSXĐ) là một loại u phổ biến, chiếm khoảng 42% trong các u màng não hố sau. Việc phẫu thuật loại u này đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về giải phẫu và sinh lý bệnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật bao gồm tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát, và kỹ thuật phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy rằng việc đánh giá đúng các yếu tố này có thể giúp cải thiện kết quả phẫu thuật và giảm thiểu biến chứng.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của u màng não mặt sau xương đá

UMNMSXĐ thường được phát hiện khi đã đạt kích thước lớn, gây ra triệu chứng do chèn ép vào các cấu trúc thần kinh quan trọng. Triệu chứng lâm sàng có thể bao gồm đau đầu, rối loạn thính lực, và các triệu chứng thần kinh khác. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để quyết định thời điểm phẫu thuật.

1.2. Tình trạng sức khỏe tổng quát và phẫu thuật

Tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến kết quả phẫu thuật. Các bệnh lý nền như tiểu đường, cao huyết áp có thể làm tăng nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật. Do đó, việc đánh giá sức khỏe tổng quát trước khi phẫu thuật là cần thiết để đưa ra kế hoạch điều trị phù hợp.

II. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến phẫu thuật u màng não

Yếu tố nguy cơ là những yếu tố có thể làm tăng khả năng xảy ra biến chứng trong quá trình phẫu thuật u màng não. Các yếu tố này bao gồm tuổi tác, giới tính, và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ cao hơn về biến chứng sau phẫu thuật. Ngoài ra, giới tính cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, với nữ giới thường có kết quả tốt hơn so với nam giới.

2.1. Tuổi tác và phẫu thuật u màng não

Tuổi tác là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật. Bệnh nhân lớn tuổi thường có sức khỏe yếu hơn và khả năng hồi phục chậm hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật tăng lên đáng kể ở nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi.

2.2. Giới tính và ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật

Giới tính cũng là một yếu tố cần xem xét. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nữ giới có xu hướng hồi phục tốt hơn sau phẫu thuật u màng não so với nam giới. Điều này có thể liên quan đến sự khác biệt về sinh lý và khả năng hồi phục của cơ thể.

III. Phương pháp phẫu thuật u màng não hiệu quả nhất

Phẫu thuật u màng não mặt sau xương đá thường được thực hiện qua đường mổ sau xoang xích-ma. Phương pháp này cho phép tiếp cận tốt hơn đến khối u mà không làm tổn thương các cấu trúc thần kinh xung quanh. Kỹ thuật vi phẫu cũng đã được áp dụng để nâng cao độ chính xác và giảm thiểu biến chứng. Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất.

3.1. Kỹ thuật vi phẫu trong phẫu thuật u màng não

Kỹ thuật vi phẫu giúp phẫu thuật viên có thể nhìn rõ hơn các cấu trúc thần kinh và mạch máu trong quá trình phẫu thuật. Điều này không chỉ giúp tăng tỷ lệ lấy trọn khối u mà còn giảm thiểu nguy cơ tổn thương các cấu trúc xung quanh.

3.2. Đường mổ sau xoang xích ma và ưu điểm

Đường mổ sau xoang xích-ma là một trong những phương pháp phổ biến nhất để tiếp cận u màng não mặt sau xương đá. Phương pháp này cho phép phẫu thuật viên tiếp cận khối u một cách an toàn, bảo toàn thính lực và giảm thiểu tổn thương cho các dây thần kinh sọ.

IV. Đánh giá sức khỏe trước phẫu thuật u màng não

Đánh giá sức khỏe trước phẫu thuật là một bước quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Các xét nghiệm cần thiết bao gồm xét nghiệm máu, chụp CT hoặc MRI để xác định kích thước và vị trí của khối u. Việc đánh giá này giúp phẫu thuật viên lên kế hoạch phẫu thuật một cách chính xác và hiệu quả.

4.1. Các xét nghiệm cần thiết trước phẫu thuật

Các xét nghiệm như xét nghiệm máu, chụp CT hoặc MRI là cần thiết để đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Những thông tin này giúp phẫu thuật viên có cái nhìn tổng quát về tình trạng của khối u và các cấu trúc xung quanh.

4.2. Đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát

Đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân bao gồm việc kiểm tra các bệnh lý nền như tiểu đường, cao huyết áp. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến khả năng hồi phục sau phẫu thuật và cần được xem xét kỹ lưỡng.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp phẫu thuật hiện đại và đánh giá đúng các yếu tố ảnh hưởng có thể cải thiện đáng kể kết quả phẫu thuật u màng não. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc theo dõi sau phẫu thuật là rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng và tái phát u.

5.1. Kết quả phẫu thuật u màng não qua các nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công trong phẫu thuật u màng não mặt sau xương đá đã tăng lên đáng kể nhờ vào việc áp dụng các kỹ thuật vi phẫu và đường mổ hiện đại. Tỷ lệ tái phát u cũng được giảm thiểu nhờ vào việc theo dõi chặt chẽ sau phẫu thuật.

5.2. Ứng dụng thực tiễn trong điều trị

Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tiễn điều trị tại các bệnh viện lớn. Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các phẫu thuật viên sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân mắc u màng não.

VI. Kết luận và tương lai của phẫu thuật u màng não

Phẫu thuật u màng não mặt sau xương đá là một lĩnh vực đang phát triển với nhiều tiến bộ trong kỹ thuật và công nghệ. Tương lai của phẫu thuật này hứa hẹn sẽ có nhiều cải tiến hơn nữa, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp mới sẽ là chìa khóa để đạt được những thành công lớn hơn trong điều trị.

6.1. Tương lai của phẫu thuật u màng não

Tương lai của phẫu thuật u màng não sẽ được định hình bởi sự phát triển của công nghệ vi phẫu và các phương pháp điều trị mới. Những tiến bộ này sẽ giúp cải thiện kết quả phẫu thuật và giảm thiểu biến chứng.

6.2. Nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực này

Nghiên cứu liên tục và phát triển các kỹ thuật mới sẽ là yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu quả điều trị u màng não. Các nghiên cứu mới sẽ giúp cung cấp thêm thông tin quý giá cho các phẫu thuật viên trong việc điều trị bệnh nhân.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU U MÀNG NÃO MẶT SAU XƯƠNG ĐÁ Rokitansky là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật UMNMSXĐ mặt sau xương đá năm 1855 [16]. Vào năm 1928, Cushing đã thực hiện thành công ca phẫu thuật UMNMSXĐ kích thước nhỏ đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, sáu ca phẫu thuật tiếp theo đều đạt kết quả không tốt. Đến năm 1938, ông viết rằng: về lâu dài, những bệnh nhân đã được phẫu thuật (ngoại trừ một trường hợp) có tiên lượng xấu, với thời gian sống trung bình chỉ 20 tháng [24].

Kể từ đó, vài tác giả đã báo cáo các trường hợp UMN hố sau: Petit-Dutiallis và Dawn báo cáo 21 trường hợp vào năm 1949, lấy trọn u 2 trường hợp, lấy bán phần u 19 trường hợp [68]. Castellano và Ruggiero báo cáo 29 trường hợp vài năm 1953, lấy trọn u 23 trường hợp, lấy bán phần u 5 trường hợp và chỉ sinh thiết u 1 trường hợp [22]. Russell và Bucy báo cáo 10 trường hợp vào năm 1953, lấy trọn u 2 trường hợp, lấy bán phần 5 trường hợp và không làm được gì trong 3 trường hợp [75]. Markham và cộng sự báo cáo 15 trường hợp năm 1955, lấy trọn u 10 trường hợp, lấy bán phần 5 trường hợp [54].

Hoffmann và cộng sự báo cáo 12 trường hợp năm 1957, lấy trọn u 7 trường hợp, lấy bán phần 5 trường hợp [40]. Yasargil và cộng sự báo cáo 30 trường hợp năm 1980 với tỉ lệ lấy trọn u là 100% [100]. 4 Shekar và Jannetta báo cáo 22 trường hợp năm 1984, lấy trọn u 14 trường hợp, lấy bán phần 8 trường hợp [88]. Hiện nay, với ứng dụng của vi phẫu, UMNMSXĐ đạt được nhiều thành công với tỉ lệ tử vong và di chứng thấp.

Tác giả Voss hồi cứu 40 trường hợp UMNMSXĐ được phẫu thuật từ năm 1984 đến 1995, tỉ lệ lấy trọn u đạt 83%, tử vong 2 trường hợp [96]. Tác giả Bassiouni báo cáo 51 bệnh nhân UMNMSXĐ được phẫu thuật qua đường mổ dưới chẩm sau xoang xích-ma từ năm 1989 đến 2002, thời gian theo dõi trung bình 5,8 năm, 86% bệnh nhân hồi phục tốt, 2 bệnh nhân (8,9%) tái phát u cần phải mổ lại [16]. Tác giả Marc Baroncini báo cáo 69 bệnh nhân UMNMSXĐ được phẫu thuật lấy u qua đường mổ dưới chẩm sau xoang xích-ma từ năm 1997 đến 2004, thời gian theo dõi trung bình 36 tháng, ghi nhận kết quả phẫu thuật tốt lên đến 91,3%, chỉ 1 trường hợp tái phát u [53]. Gần đây nhất, tác giả Xiaosheng He báo cáo 53 ca UMNMSXĐ trong đó có 49 trường hợp được phẫu thuật lấy u qua đường mổ dưới chẩm sau xoang xích-ma từ tháng 1/ 2012 đến tháng 12 /2015, ghi nhận 2 trường hợp tử vong sau mổ, chiếm tỉ lệ 2% [98].

Tuy nhiên, tại Việt Nam, UMNMSXĐ chỉ được báo cáo với số lượng vài ca trong tập hợp các báo cáo về UMN hố sau. Lê Đức Định Miên, Phạm Anh Tuấn báo cáo hồi cứu 54 trường hợp UMN tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 1/2008 đến tháng 8/2012, trong đó chỉ có 4 trường hợp UMNMSXĐ, không ghi nhận trường hợp tử vong sau mổ [4]. 5 Trần Trung Kiên, Nguyễn Thế Hào, Dương Đại Hà báo cáo hồi cứu 16 trường hợp UMN sàn sọ phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 8/2010 đến tháng 8/2012, có 4 trường hợp UMNMSXĐ, tỉ lệ lấy trọn u 100%, không ghi nhận tử vong sau mổ [3]. Dương Đại Hà, Lê Anh Tuấn báo cáo hồi cứu 45 bệnh nhân UMN được phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2014, chỉ có 1 trường hợp UMNMSĐ, không ghi nhận tử vong sau mổ [2].

Huỳnh Lê Phương báo cáo hồi cứu 44 trường hợp UMN hố sau từ 1/2013 đến 1/2015 tại bệnh viện Chợ Rẫy, trong đó có 20 trường hợp UMNMSĐ, tỉ lệ lấy u toàn phần chiếm 75%, không có trường hợp tử vong sau mổ [7]. Trần Hoàng Ngọc Anh, Phạm Trung Chính báo cáo 35 trường hợp u não hố sau được phẫu thuật tại bệnh viện Nhân dân Gia Định từ 9/2009 đến 6/2015, có 14 (40%) trường hợp UMNMSXĐ, không có trường hợp tử vong sau mổ [1].2 GIẢI PHẪU VÙNG GÓC CẦU TIỂU NÃO Góc cầu tiểu não nằm giữa chi trên và chi dưới của rãnh góc cầu tiểu não, rãnh này được tạo bởi mặt xương đá của tiểu não gấp quanh cầu não và cuống tiểu não giữa (hình 1. Rãnh góc cầu tiểu não mở vào trong, có chi trên và chi dưới gặp nhau ở đỉnh bên. Các dây thần kinh sọ từ IV đến XI nằm gần hay nằm trong góc mở của hai chi, hay còn được gọi là góc cầu tiểu não.

Dây IV, V nằm gần rãnh của chi trên, dây XI, X, XI nằm gần chi dưới. Dây VI nằm ở đáy của rãnh, dọc theo chỗ tiếp giáp của chi trên và chi dưới [8], [9].1: Giới hạn vùng góc cầu tiểu não: góc cầu tiểu não nằm giữa chi trên và chi dưới của rãnh góc cầu tiểu não. Việc mô tả các cấu trúc thần kinh và đường tiếp cận góc cầu tiểu não qua đường mổ sau xoang xích-ma xoay quanh ba phức hợp thần kinh mạch máu: phức hợp trên, phức hợp giữa và phức hợp dưới.2: phức hợp mạch máu - TK trên, giữa và dưới. 7 Phức hợp thần kinh mạch máu trên (hình 1.2):  Rễ thần kinh V Những sợi thần kinh V3 đi ở dưới bên trong đoạn từ hạch TK đến cầu não, V1 theo hướng trên trong, V2 đi ở vị trí trung gian.

Thiết đồ cắt ngang TK V cảm giác trong đoạn từ cầu não đến xương đá hình bầu dục. Tại vị trí TK đi vào cầu não, có đến 15 rễ TK nhỏ tỏa ra xung quanh một nửa trên ở vị trí nón cảm giác đi vào cầu não. Những rễ nhỏ này có thể là rễ vận động hay rễ cảm giác đi lạc. Những sợi cảm giác lạc chỗ là những rễ cảm giác nhỏ đi vào cầu não bên ngoài rễ cảm giác chính.

Những rễ cảm giác lạc chỗ xuất phát xung quanh vị trí 2/3 trên của rễ TK và thường hội tụ và thường nhập với rễ một đoạn ngằn từ thân não. Những rễ lạc chỗ này có thể lên đến 8 rễ. Những rễ cảm giác phía trên thường nhập vào bó thứ nhất, những sợi xuất phát từ dưới thường nhập vào bó thứ hai và thứ ba, không có rễ cảm giác lạc chỗ xuất phát xung quanh 1/3 dưới của rễ cảm giác, những sợi này chủ yếu tạo nên nhánh thứ nhất và dường như không dẫn truyền cảm giác đặc hiệu từ cả ba nhánh. Những rễ TK vận động cũng xuất phát từ phần trên của rễ TK nhưng xa hơn nón cảm giác so với rễ TK phụ.

Những rễ vận động được tạo nên bởi từ 4 đến 14 rễ TK nhỏ riêng biệt, mỗi nhánh xuất phát riêng biệt từ cầu não. Những sợi cảm giác lạc chỗ thường xuất phát gần thân cảm giác chính hơn là những sợi vận động. Tuy nhiên một vài sợi cảm giác lạc chỗ xuất phát xa hơn rễ cảm giác chính hơn là gốc của một vài sợi vận động, vì thế có thể nhầm lẫn những sợi cảm giác lạc chỗ và sợi vận động ở chỗ nối TK và cầu não. Sự thông nối giữa rễ vận động và cảm giác xuất hiện ở hầu hết các dây TK.

Những sợi cảm giác cùng với rễ vận động từ cầu não ở vị trí gần hạch, tại đây rễ vận động thông nối với rễ cảm giác sát với hạch TK, nơi chúng nối với 8 rễ cảm giác. Điều này giải thích đau dây V tái phát sau cắt rễ sau, bởi vì những rễ thông nối hiện diện từ cầu não đến hạch TK. Những rễ cảm giác lạc chỗ chỉ hiện diện trong phân nửa của dây TK, giải thích sự bảo tồn cảm giác sau khi cắt rễ vận động.3: Vi phẫu TK V (TK V bên phải, nhìn từ ngoài vào). B: màng cứng được cắt bỏ, bộc lộ hoàn toàn rễ cảm giác, hạch và 3 nhánh của TK V, ghi nhận mạng lưới thông nối từ rễ cảm giác và hạch.

C: mạng lưới thông nối tại hố Meckel (phóng đại). D: 4 rễ vận động nhỏ xuất phát từ bờ trên rễ cảm giác, 4 rễ này được nâng lên để bộc lộ thông nối giữa rễ vận động và cảm giác. D: bóc tách 3 bó V1 V2 V3 theo hướng từ trước ra sau, V1 nằm trên trong, V3 nằm dưới ngoài, V2 nằm ở vị trí trung gian.  Mạch máu - Đỉnh thân nền: 9 Là phần cuối cùng của động mạch thân nền, rất quan trọng.

Thường bao gồm 2 động mạch tiểu não trên (ĐMTNST) và hai động mạch não sau (ĐMNS) nằm giữa chất thủng sau và mặt dốc xương đá. Đỉnh thân nền nằm trong khoảng 1 cm sau lưng yên. Sự liên quan của đỉnh thân nền, lưng yên và mấu giường sau rất quan trọng vì nó quyết định chọn lựa đường mổ tiếp cận thương tổn vùng này thích hợp. Đỉnh thân nền và nhánh chia đôi của nó ở đoạn gần ĐMNS sau tạo thành phần sau của đa giác Willis.

Đỉnh thân nền và ĐMNS cho những nhánh xuyên quan trọng. Chúng được chia làm 3 nhóm: - Nhóm 1: xuất phát từ 2-3 cm đoạn cuối động mạch thân nền, đi vào chất thủng sau cấp máu cho cuống đại não và mặt bên cầu não. - Nhóm 2: xuất phát từ đoạn gần ĐMNS (gọi là các nhánh xuyên đồi thị sau) cấp máu cho cuống đại não, thể núm vú, phần sau gian não. - Nhóm 3: xuất phát từ mặt trước bên ĐM thông sau cấp máu cho vùng hạ đồi và giao thoa thị giác.

Đỉnh thân nền nằm trong bể gian cuống não, là phần sau của bể trước cầu não. Bể này thông ra phía trước với bể giao thoa thị giác và được ngăn cách với bể này bởi một tấm màng nhện dày gọi là màng Liliequist (bám từ lưng yên đến thể núm vú và có một tấm tự do đi xuống dưới ra sau, trước bể gian cuống não). Muốn vào bể gian cuống não tiếp cận các sang thương vùng đỉnh thân nền thì phải cắt màng này. TK III là mốc quan trọng dẫn đường vào đỉnh thân nền.

TK III đi ra giữa hai cuống đại não ra phía trước giữa ĐMNS ở phía trên và ĐMTNT ở phía dưới đến bờ tự do của khuyết lều, nên có thể dựa vào TK III để xác định ĐMNS và ĐMTNT cùng bên. ĐMNS từ đỉnh thân nền đi vòng ra trước giữa TK IV ở trong và TK III ở ngoài. ĐMTNT luôn đi dưới TK III và IV. Sự 10 tương quan giải phẫu này giúp xác định hướng bóc tách khi tiếp cận vùng đỉnh thân nền.

- Động mạch não sau : Động mạch não sau xuất phát từ chỗ chia đôi của động mạch thân nền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ