Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cốt lõi của hệ thống trường đại học tư thục tại TP.HCM

Chuyên đề nghiên cứu Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cốt lõi của trường đại học tư thục tại TP.HCM, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

212
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cốt lõi

Năng lực cốt lõi (năng lực cốt lõi) của trường đại học tư thục tại TP.HCM là khả năng tích hợp và tối ưu hóa các nguồn lực để tạo ra giá trị gia tăng cho sinh viên và xã hội. Năng lực này không chỉ phản ánh chất lượng giáo dục mà còn là yếu tố quyết định trong việc cạnh tranh với các cơ sở giáo dục khác. Theo nghiên cứu, năng lực cốt lõi bao gồm các yếu tố như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, và chương trình học. Những yếu tố này cần được cải thiện liên tục để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Việc nâng cao năng lực cốt lõi không chỉ giúp trường tồn tại mà còn phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực cốt lõi

Năng lực cốt lõi được định nghĩa là những khả năng đặc biệt mà một tổ chức sở hữu, cho phép tổ chức đó tạo ra giá trị độc đáo và khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực cốt lõi không chỉ là việc cung cấp kiến thức mà còn là khả năng phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường lao động hiện đại, nơi mà các nhà tuyển dụng ngày càng chú trọng đến kỹ năng thực hành và khả năng làm việc nhóm của ứng viên.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cốt lõi

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cốt lõi của trường đại học tư thục tại TP.HCM. Các yếu tố này bao gồm chất lượng giáo dục, quản lý giáo dục, và đội ngũ giảng viên. Chất lượng giáo dục được xác định bởi chương trình học và phương pháp giảng dạy. Quản lý giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường học tập tích cực. Đội ngũ giảng viên không chỉ cần có trình độ chuyên môn cao mà còn phải có khả năng truyền đạt kiến thức hiệu quả. Những yếu tố này cần được xem xét đồng bộ để nâng cao năng lực cốt lõi của trường.

2.1. Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt trong việc xác định năng lực cốt lõi của trường đại học tư thục. Chương trình học cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời phải đảm bảo tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng, giúp sinh viên tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả hơn. Theo một nghiên cứu gần đây, các trường có chương trình học linh hoạt và cập nhật thường xuyên sẽ thu hút được nhiều sinh viên hơn và nâng cao được uy tín của mình.

2.2. Đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục. Giảng viên không chỉ cần có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn phải có kỹ năng sư phạm tốt. Việc đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên cần được chú trọng để đảm bảo họ có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sinh viên và thị trường lao động. Các trường cần có chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút và giữ chân giảng viên chất lượng cao.

III. Đánh giá và đề xuất

Đánh giá năng lực cốt lõi của trường đại học tư thục tại TP.HCM cho thấy nhiều trường vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc phát triển các yếu tố cốt lõi. Cần có những chính sách cụ thể để cải thiện cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy và tăng cường hợp tác quốc tế. Việc áp dụng các công nghệ mới trong giáo dục cũng cần được khuyến khích. Đề xuất các giải pháp như tăng cường đào tạo cho giảng viên, cải thiện chương trình học và xây dựng môi trường học tập tích cực sẽ giúp nâng cao năng lực cốt lõi của các trường.

3.1. Giải pháp nâng cao năng lực cốt lõi

Để nâng cao năng lực cốt lõi, các trường đại học tư thục cần tập trung vào việc cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị học tập. Đồng thời, cần xây dựng các chương trình đào tạo liên kết với doanh nghiệp để sinh viên có cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế. Việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của các chuyên gia trong ngành cũng sẽ giúp sinh viên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới. Các trường cũng nên xem xét việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại để thu hút sinh viên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của luận án này trình bày các nội dung chính bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án, kết cấu của luận án, và phần tóm tắt chương. Chi tiết của mỗi nội dung được trình bày như sau: 1.1 Lý do chọn đề tài luận án Năng lực cốt lõi (NLL) là khả năng của tổ chức trong tích hợp tối ưu các nguồn lực của tổ chức để tạo nên những điểm mạnh cụ thể so với các tổ chức khác trong ngành, là nền tảng cơ bản để tạo ra sự khác biệt cho tổ chức và giá trị gia tăng cho các bên liên quan (Kawshala và cộng sự, 2017). NLL là các phương tiện thiết yếu đảm bảo sự tồn tại của tổ chức trong dài hạn (Macmillan và cộng sự, 2000). NLL là những cơ chế quan trọng cho phép tổ chức đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách cải thiện các hoạt động liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của mình (Shalash và Al-khafaji, 2014).

NLL của một tổ chức trong lĩnh vực giáo dục không khác lĩnh vực kinh doanh về hiệu suất, bởi vì các khía cạnh năng lực cốt lõi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra các giá trị gia tăng cho các tổ chức và các bên liên quan (Kahwaji và cộng sự, 2020).1 Bối cảnh thực tiễn Giáo dục đại học (GDĐH) ngày càng gia tăng vai trò quan trọng trong một xã hội năng động hơn theo xu hướng tăng cường hội nhập quốc tế. Theo đó, nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho những mục tiêu mới về phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển năng lực toàn diện của lực lượng lao động năng động ngày càng gia tăng. Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, đòi hỏi năng suất lao động phải cải thiện đáng kể thông qua nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đòi hỏi tăng trưởng về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao (World Bank và MPI, 2016 “Vietnam 2035” Report). Điều này khẳng định vai trò quan trọng quyết định của GDĐH về mặt thực tiễn đối với công cuộc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Bối cảnh thực tiễn của GDĐH nói chung và GDĐH tư thục nói riêng được thảo luận thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước như sau. Theo Parajuli và cộng sự (2020), vai trò thực tiễn của GDĐH trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia được tích cực ghi nhận. Cụ thể, GDĐH có vai trò TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 2 quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thông qua thực hiện sứ mệnh đào tạo lực lượng lao động có trình độ và khả năng thích ứng cao, tạo ra kiến thức mới thông qua nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, và thúc đẩy đổi mới thông qua ứng dụng kiến thức và công nghệ mới (Salmi, 2017). Ở Việt Nam, GDĐH có tác động tích cực đáng kể đến tình trạng nghèo đói và thu nhập lâu dài của hộ gia đình (Parajuli và cộng sự, 2020).

Trong số tất cả các phân nhóm giáo dục ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp đại học ngày nay có nhiều lợi thế trên thị trường lao động về mức độ tham gia lao động, loại công việc và mức thu nhập (Patrinos và cộng sự, 2017). Trong khi đó, ở cấp độ kinh tế vĩ mô, Việt Nam cần một lực lượng lao động có tay nghề cao cho hiện tại và cho tương lai để hiện thực hóa mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 (Parajuli và cộng sự, 2020). Theo thống kê bởi ngân hàng thế giới, Việt Nam với hơn 95 triệu dân và mức GDP bình quân đầu người là 2,563 đô la Mỹ (2018) (World Bank, 2019), Việt Nam được toàn cầu công nhận về sự tiến bộ kinh tế xã hội kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới vào cuối những năm 1980. Từ năm 1990 đến năm 2018, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng hàng năm với tốc độ trung bình ấn tượng là 5,5 phần trăm.

Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy năng suất lao động có xu hướng giảm kể từ cuối những năm 1990 từ gần 7% năm 1995 xuống còn 3,5% năm 2013 (World Bank và MPI, 2016 “Vietnam 2035” Report). Do đó, con đường hướng tới thịnh vượng của Việt Nam vào năm 2035 đòi hỏi sự nỗ lực liên tục từ hôm nay để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hướng đến “nâng cao năng suất lao động”; “đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao hơn và số lượng nhiều hơn”. Theo đó, nâng cao chất lượng GDĐH và mức độ phù hợp của các cơ sở GDĐH là vấn đề cấp thiết để thực hiện mục tiêu này. “Chủ trương xã hội hóa giáo dục và đổi mới giáo dục đã thúc đẩy các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ra đời từ những năm 1988 và phát triển thành hệ thống các trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL), trường cao đẳng ngoài công lập (CĐNCL) như ngày nay”.

Hệ thống này dần thể hiện vai trò quan trọng trong nền GDĐH Việt Nam thông qua “mở rộng cơ hội học đại học”, “học nghề nghiệp”, “đóng góp đáng kể cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đất nước”. Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của hệ thống GDĐH ngoài công lập (GDĐH NCL) đã góp phần san sẻ gánh nặng đối với chính phủ về đầu tư phát triển GDĐH, bởi vì các ĐHTT, CĐTT không được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước mà phải TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 3 tự chủ về nguồn vốn hoạt động từ “các nguồn lực xã hội” nhưng vẫn “tuân thủ pháp luật hiện hành” và phải “phù hợp với điều lệ trường ĐH Việt Nam”. Hay nói cách khác, sự hình thành và phát triển của các trường ĐHTT, CĐTT thể hiện bước tiến mới trong thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục (XHHGD) nền GDĐH Việt Nam thông qua cơ chế tự chủ về nguồn vốn hoạt động và đầu tư phát triển, tự chịu trách nhiệm nguồn nhân lực, về mọi hoạt động và hiệu quả hoạt động. Điều này có ý nghĩa về mặt tự chủ nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với các trường ĐHTT, CĐTT ảnh hưởng đến con đường phát triển bền vững (Vũ Đình Ưng, 2015).

Hệ thống GDĐH tư thục ở Việt Nam chưa bắt kịp xu hướng phát triển của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Ví dụ, Nhật Bản có 599 trường ĐHTT trong tổng số 780 trường ĐH, chiếm 76,79%, với tỷ lệ sinh viên vào các trường ĐHTT là 77,6%; Malaysia có 67 trường ĐH, trong đó có 47 trường ĐHTT, chiếm 78,33%, với tỷ lệ sinh viên trên 50% (Vo và cộng sự, 2019). Trong khi đó, theo thống kê của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam, hệ thống trường ĐHTT và CĐTT ở Việt Nam tính đến năm 2016 là 90, chiếm khoảng 20,36 % trong tổng số 442 trường ĐH, CĐ cả nước. Trong đó, 30 trường CĐTT và 60 trường ĐHTT, với số lượng sinh viên gần 290.000, chiếm khoảng 13 % tổng số sinh viên cả nước.

Hệ thống trường ĐHTT và CĐTT tại Việt Nam có những đóng góp đáng kể cho xã hội liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước và giải quyết công việc làm cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ, viên chức trong ngành giáo dục. Bên cạnh những đóng góp này, các trường ĐHTT còn nhiều hạn chế mang tính cấp thiết, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tồn tại và phát triển của các cơ sở GDĐH tư thục như sau: Về cơ sở vật chất: Đa số các trường ĐHTT có cơ sở đào tạo phân tán, quy mô nhỏ, hơn nữa nhiều cơ sở không có quyền sở hữu đất và phải thuê 100% cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, điều kiện thư viện kém, thiếu tài liệu học tập và thiếu các dịch vụ hỗ trợ học tập, căng tin chưa đảm bảo, khu vệ sinh chưa sạch sẽ, thông thoáng, vv, tất cả những hạn chế này có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của trường bằng nhiều cách (Vo và cộng sự, 2019). Về tài chính: Bên cạnh một số trường thuộc sở hữu của các tập đoàn lớn, nhiều trường ĐHTT có sự góp vốn của nhiều cổ đông với thành phần phức tạp, khó thống nhất về chiến lược đào tạo cũng như sự phát triển của trường.

Thậm chí, một số trường phải đối mặt với vấn đề tài chính tiêu cực, mâu thuẫn nội bộ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 của trường. Trên thực tế, cơ cấu thu chi của các trường ĐHTT khá tương đồng, trong đó, nguồn thu chủ yếu là từ học phí, chiếm khoảng hơn 60% tổng thu. Do đó, đa số các trường ĐHTT bị áp lực về tài chính do nguồn vốn hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào nguồn học phí, rủi ro cao do phụ thuộc vào số lượng sinh viên đầu vào và số lượng sinh viên theo học tại trường. Hơn nữa, các trường ĐHTT phải tự chủ về tài chính mọi mặt, đa phần do các cá nhân, các doanh nghiệp, hoặc các tổ chức xã hội đầu tư và vận hành như là một “doanh nghiệp kinh doanh giáo dục”.

Với định hướng này, nhiều cơ sở GDĐH tư thục chú trọng kết quả hoạt động tài chính hơn những chỉ số kết quả khác nên đa số ít đầu tư vào “những hoạt động khác ngoài hoạt động đào tạo” (Fry, 2009). Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng của ĐHTT ở Việt Nam so với nhiều nước. Ở các nước phát triển, các trường ĐHTT hầu hết là phi lợi nhuận (Vo và cộng sự, 2019). Về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực trong hệ thống GDĐH tư thục còn nhiều hạn chế về số lượng và chất lượng.

Đa số các trường ĐHTT vẫn đang tồn tại vấn đề phổ biến nhất đó là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vị trí quản lý và giảng viên. Điều này có thể được giải thích bởi “cơ chế chính sách” liên quan đến con đường phát triển sự nghiệp của “cán bộ quản lý và giảng viên trong hệ thống GDĐH”, theo đó, các trường ĐHCL có ưu thế hơn các trường ĐHTT trong việc thu hút nguồn nhân lực có học hàm, học vị cao. Bên cạnh đó, biên chế chuyên trách có sự phân hóa. Cụ thể là cán bộ có học hàm, học vị thường là người cao tuổi, trong khi hầu hết các giảng viên trẻ có trình độ cử nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cốt lõi của hệ thống trường đại học tư thục tại TP.HCM" của tác giả Mạch Trần Huy, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Trọng Hoài và TS. Nguyễn Văn Tân, tập trung vào việc phân tích các yếu tố quyết định đến năng lực cốt lõi của các trường đại học tư thục tại TP.HCM. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà quản lý giáo dục hiểu rõ hơn về những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục mà còn cung cấp những giải pháp khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết "Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Sinh Viên Về Chất Lượng Dịch Vụ Tại Trường Đại Học Ngoại Thương", nơi nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ giáo dục. Bên cạnh đó, bài viết "Luận Án Tiến Sĩ Về Văn Hóa Chất Lượng Trong Các Trường Đại Học Tư Thục Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học tư thục. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học địa phương trong bối cảnh hiện nay" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của giảng viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường đại học.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung cho nghiên cứu của bạn mà còn mở ra nhiều khía cạnh mới trong lĩnh vực quản lý giáo dục.