Chương 1 của luận án này trình bày các nội dung chính bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án, kết cấu của luận án, và phần tóm tắt chương. Chi tiết của mỗi nội dung được trình bày như sau: 1.1 Lý do chọn đề tài luận án Năng lực cốt lõi (NLL) là khả năng của tổ chức trong tích hợp tối ưu các nguồn lực của tổ chức để tạo nên những điểm mạnh cụ thể so với các tổ chức khác trong ngành, là nền tảng cơ bản để tạo ra sự khác biệt cho tổ chức và giá trị gia tăng cho các bên liên quan (Kawshala và cộng sự, 2017). NLL là các phương tiện thiết yếu đảm bảo sự tồn tại của tổ chức trong dài hạn (Macmillan và cộng sự, 2000). NLL là những cơ chế quan trọng cho phép tổ chức đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách cải thiện các hoạt động liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của mình (Shalash và Al-khafaji, 2014).
NLL của một tổ chức trong lĩnh vực giáo dục không khác lĩnh vực kinh doanh về hiệu suất, bởi vì các khía cạnh năng lực cốt lõi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra các giá trị gia tăng cho các tổ chức và các bên liên quan (Kahwaji và cộng sự, 2020).1 Bối cảnh thực tiễn Giáo dục đại học (GDĐH) ngày càng gia tăng vai trò quan trọng trong một xã hội năng động hơn theo xu hướng tăng cường hội nhập quốc tế. Theo đó, nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho những mục tiêu mới về phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển năng lực toàn diện của lực lượng lao động năng động ngày càng gia tăng. Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, đòi hỏi năng suất lao động phải cải thiện đáng kể thông qua nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đòi hỏi tăng trưởng về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao (World Bank và MPI, 2016 “Vietnam 2035” Report). Điều này khẳng định vai trò quan trọng quyết định của GDĐH về mặt thực tiễn đối với công cuộc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Bối cảnh thực tiễn của GDĐH nói chung và GDĐH tư thục nói riêng được thảo luận thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước như sau. Theo Parajuli và cộng sự (2020), vai trò thực tiễn của GDĐH trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia được tích cực ghi nhận. Cụ thể, GDĐH có vai trò TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 2 quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo thông qua thực hiện sứ mệnh đào tạo lực lượng lao động có trình độ và khả năng thích ứng cao, tạo ra kiến thức mới thông qua nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, và thúc đẩy đổi mới thông qua ứng dụng kiến thức và công nghệ mới (Salmi, 2017). Ở Việt Nam, GDĐH có tác động tích cực đáng kể đến tình trạng nghèo đói và thu nhập lâu dài của hộ gia đình (Parajuli và cộng sự, 2020).
Trong số tất cả các phân nhóm giáo dục ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp đại học ngày nay có nhiều lợi thế trên thị trường lao động về mức độ tham gia lao động, loại công việc và mức thu nhập (Patrinos và cộng sự, 2017). Trong khi đó, ở cấp độ kinh tế vĩ mô, Việt Nam cần một lực lượng lao động có tay nghề cao cho hiện tại và cho tương lai để hiện thực hóa mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2035 (Parajuli và cộng sự, 2020). Theo thống kê bởi ngân hàng thế giới, Việt Nam với hơn 95 triệu dân và mức GDP bình quân đầu người là 2,563 đô la Mỹ (2018) (World Bank, 2019), Việt Nam được toàn cầu công nhận về sự tiến bộ kinh tế xã hội kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới vào cuối những năm 1980. Từ năm 1990 đến năm 2018, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng hàng năm với tốc độ trung bình ấn tượng là 5,5 phần trăm.
Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy năng suất lao động có xu hướng giảm kể từ cuối những năm 1990 từ gần 7% năm 1995 xuống còn 3,5% năm 2013 (World Bank và MPI, 2016 “Vietnam 2035” Report). Do đó, con đường hướng tới thịnh vượng của Việt Nam vào năm 2035 đòi hỏi sự nỗ lực liên tục từ hôm nay để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hướng đến “nâng cao năng suất lao động”; “đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao hơn và số lượng nhiều hơn”. Theo đó, nâng cao chất lượng GDĐH và mức độ phù hợp của các cơ sở GDĐH là vấn đề cấp thiết để thực hiện mục tiêu này. “Chủ trương xã hội hóa giáo dục và đổi mới giáo dục đã thúc đẩy các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ra đời từ những năm 1988 và phát triển thành hệ thống các trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL), trường cao đẳng ngoài công lập (CĐNCL) như ngày nay”.
Hệ thống này dần thể hiện vai trò quan trọng trong nền GDĐH Việt Nam thông qua “mở rộng cơ hội học đại học”, “học nghề nghiệp”, “đóng góp đáng kể cho sự nghiệp giáo dục đào tạo nhân lực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đất nước”. Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của hệ thống GDĐH ngoài công lập (GDĐH NCL) đã góp phần san sẻ gánh nặng đối với chính phủ về đầu tư phát triển GDĐH, bởi vì các ĐHTT, CĐTT không được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước mà phải TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 3 tự chủ về nguồn vốn hoạt động từ “các nguồn lực xã hội” nhưng vẫn “tuân thủ pháp luật hiện hành” và phải “phù hợp với điều lệ trường ĐH Việt Nam”. Hay nói cách khác, sự hình thành và phát triển của các trường ĐHTT, CĐTT thể hiện bước tiến mới trong thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục (XHHGD) nền GDĐH Việt Nam thông qua cơ chế tự chủ về nguồn vốn hoạt động và đầu tư phát triển, tự chịu trách nhiệm nguồn nhân lực, về mọi hoạt động và hiệu quả hoạt động. Điều này có ý nghĩa về mặt tự chủ nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với các trường ĐHTT, CĐTT ảnh hưởng đến con đường phát triển bền vững (Vũ Đình Ưng, 2015).
Hệ thống GDĐH tư thục ở Việt Nam chưa bắt kịp xu hướng phát triển của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Ví dụ, Nhật Bản có 599 trường ĐHTT trong tổng số 780 trường ĐH, chiếm 76,79%, với tỷ lệ sinh viên vào các trường ĐHTT là 77,6%; Malaysia có 67 trường ĐH, trong đó có 47 trường ĐHTT, chiếm 78,33%, với tỷ lệ sinh viên trên 50% (Vo và cộng sự, 2019). Trong khi đó, theo thống kê của Hiệp hội các trường ĐH, CĐ Việt Nam, hệ thống trường ĐHTT và CĐTT ở Việt Nam tính đến năm 2016 là 90, chiếm khoảng 20,36 % trong tổng số 442 trường ĐH, CĐ cả nước. Trong đó, 30 trường CĐTT và 60 trường ĐHTT, với số lượng sinh viên gần 290.000, chiếm khoảng 13 % tổng số sinh viên cả nước.
Hệ thống trường ĐHTT và CĐTT tại Việt Nam có những đóng góp đáng kể cho xã hội liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước và giải quyết công việc làm cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ, viên chức trong ngành giáo dục. Bên cạnh những đóng góp này, các trường ĐHTT còn nhiều hạn chế mang tính cấp thiết, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tồn tại và phát triển của các cơ sở GDĐH tư thục như sau: Về cơ sở vật chất: Đa số các trường ĐHTT có cơ sở đào tạo phân tán, quy mô nhỏ, hơn nữa nhiều cơ sở không có quyền sở hữu đất và phải thuê 100% cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, điều kiện thư viện kém, thiếu tài liệu học tập và thiếu các dịch vụ hỗ trợ học tập, căng tin chưa đảm bảo, khu vệ sinh chưa sạch sẽ, thông thoáng, vv, tất cả những hạn chế này có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của trường bằng nhiều cách (Vo và cộng sự, 2019). Về tài chính: Bên cạnh một số trường thuộc sở hữu của các tập đoàn lớn, nhiều trường ĐHTT có sự góp vốn của nhiều cổ đông với thành phần phức tạp, khó thống nhất về chiến lược đào tạo cũng như sự phát triển của trường.
Thậm chí, một số trường phải đối mặt với vấn đề tài chính tiêu cực, mâu thuẫn nội bộ ảnh hưởng xấu đến các hoạt động TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 của trường. Trên thực tế, cơ cấu thu chi của các trường ĐHTT khá tương đồng, trong đó, nguồn thu chủ yếu là từ học phí, chiếm khoảng hơn 60% tổng thu. Do đó, đa số các trường ĐHTT bị áp lực về tài chính do nguồn vốn hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào nguồn học phí, rủi ro cao do phụ thuộc vào số lượng sinh viên đầu vào và số lượng sinh viên theo học tại trường. Hơn nữa, các trường ĐHTT phải tự chủ về tài chính mọi mặt, đa phần do các cá nhân, các doanh nghiệp, hoặc các tổ chức xã hội đầu tư và vận hành như là một “doanh nghiệp kinh doanh giáo dục”.
Với định hướng này, nhiều cơ sở GDĐH tư thục chú trọng kết quả hoạt động tài chính hơn những chỉ số kết quả khác nên đa số ít đầu tư vào “những hoạt động khác ngoài hoạt động đào tạo” (Fry, 2009). Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng của ĐHTT ở Việt Nam so với nhiều nước. Ở các nước phát triển, các trường ĐHTT hầu hết là phi lợi nhuận (Vo và cộng sự, 2019). Về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực trong hệ thống GDĐH tư thục còn nhiều hạn chế về số lượng và chất lượng.
Đa số các trường ĐHTT vẫn đang tồn tại vấn đề phổ biến nhất đó là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vị trí quản lý và giảng viên. Điều này có thể được giải thích bởi “cơ chế chính sách” liên quan đến con đường phát triển sự nghiệp của “cán bộ quản lý và giảng viên trong hệ thống GDĐH”, theo đó, các trường ĐHCL có ưu thế hơn các trường ĐHTT trong việc thu hút nguồn nhân lực có học hàm, học vị cao. Bên cạnh đó, biên chế chuyên trách có sự phân hóa. Cụ thể là cán bộ có học hàm, học vị thường là người cao tuổi, trong khi hầu hết các giảng viên trẻ có trình độ cử nhân.