Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nêu những lý do, vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu kiểm tra sức khoẻ của người dân – Mô hình nghiên cứu. Chương này chúng ta tìm hiểu cơ sở lý luận về nhu cầu kiểm tra sức khỏe, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu kiểm tra sức khỏe cùng và các nghiên cứu của một số nhà nghên cứu trong và ngoài nước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết phương pháp thực hiện nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua 123doc 5 hai giai đoạn là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm giữa người nghiên cứu và đối tượng tham gia nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương 4 trình bày thông tin về mẫu khảo sát, đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến, khảo sát các biến thành phần Chương 5: Kết luận.
chương này trình bày các khuyến nghị về giải pháp nhằm khuyến khích việc kiểm tra sức khoẻ của người dân, các đóng góp của nghiên cứu và hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU KIỂM TRA SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI DÂN – MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm tra sức khoẻ của người dân 2.1 Khái niệm về kiểm tra sức khỏe Kiểm tra sức khoẻ là việc kiểm tra, đánh gía tổng quan tình trạng sức khỏe bao gồm việc khám, chẩn đoán bệnh để phát hiện và điều trị bệnh sớm nhất tại các cơ sở y tế nhằm mục đích đảm bảo sức khỏe của người dân. (Jonathan JAO Odwee và cộng sự 2006) Các hình thức khám sức khỏe định kỳ theo quy định và khuyến cáo ở Việt Nam: (1) Nếu là cá nhân hoặc gia đình tự tổ chức đi khám thì không có yêu cầu bắt buộc. Chỉ có khuyến cáo nên đi khám mỗi năm một lần hoặc hai năm một lần tùy theo độ tuổi, giới tính.
Riêng đối với nữ giới, đặc biệt là phụ nữ đã có gia đình hoặc trong độ tuổi từ 35 trở lên nên đi khám phụ khoa 6 tháng/ lần. (2) Đối với người lao động đang làm việc tại các công ty, nhà máy, cơ quan, tổ chức khác… Bộ Y tế đã có quy định các doanh nghiệp phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên ít nhất 1 lần/năm. Đối với các ngành nghề đặc thù như chế biến thực phẩm, nhà hàng, khách sạn, quán bar…phải khám thêm các mục chuyên sâu theo chương trình Thẻ xanh, Thẻ hồng. Những người làm việc trong môi trường ô nhiễm, độc hại cũng phải được kiểm tra Bệnh nghề nghiệp theo định kỳ.
(3) Ngoài ra còn có các hình thức khám sức khỏe theo mẫu quy định của Bộ Y tế nhưng thực hiện tùy theo nhu cầu như khám để làm hồ sơ xin việc, thủ tục nhập học, lấy bằng lái xe hoặc du học …các dạng này đều có quy định về biểu mẫu và mục khám không khác nhau nhiều và khá đơn giản.2 Nhu cầu kiểm tra sức khoẻ của người dân Nhu cầu kiểm tra sức khoẻ của người dân là nhu cầu về kiểm tra sức khỏe để đánh gía tổng quan tình trạng sức khỏe bao gồm việc khám, chẩn đoán bệnh để 123doc 7 phát hiện và điều trị bệnh sớm nhất tại các cơ sở y tế nhằm mục đích đảm bảo sức khỏe của người dân (Jonathan JAO Odwee và cộng sự, 2006). Việc kiểm tra sức khoẻ không chỉ là kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho người khoẻ mạnh mà cả cho những bệnh nhân không khám bác sỹ trong một thời gian dài. Từ đây, người dân sẽ có cái nhìn tổng quát về sức khỏe của mình và được hướng dẫn cách giữ gìn sức khoẻ. Trong một số trường hợp, việc kiểm tra sức khoẻ cho phép các bác sỹ phát hiện ra nguy cơ gây bệnh hoặc sớm phát hiện ra bệnh nhằm điều trị kịp thời.
Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trong chăm sóc sức khỏe so với mức thu nhập bình quân đầu người. Các chỉ số cơ bản như tuổi thọ trung bình của người dân, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đều tốt hơn các nước có mức thu nhập bình quân đầu người tương đương hoặc thậm chí cao hơn. Các chỉ số về Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) trong lĩnh vực y tế Việt Nam cũng đã và đang đạt được một cách ấn tượng , như giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ chết mẹ, tăng tuổi thọ (Báo cáo tổng quan ngành y tế, 2014). Ngày nay cùng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, người dân đã có ý thức hơn trong việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình, khi gia đình có người ốm đau là họ đã lo lắng và đi khám chữa bệnh bằng hình thức này hay hình thức khác (mua thuốc điều trị, đến trung tâm y tế xã/phường, đến phòng khám tư, đến bệnh viện quận/huyện, bệnh viện tỉnh/ thành phố, bệnh viện tư nhân.) tùy theo điều kiện của mỗi hộ gia đình.
Như vậy, nhu cầu kiểm tra sức khỏe của nhân dân trong những năm gần đây ngày càng gia tăng. Những yếu tố ảnh hưởng đến các đến nhu cầu kiểm tra sức khoẻ của người dân.3 Yếu tố lối sống Lối sống là những nét điểm hình, được lặp đi lặp lại và định hình thành phong cách, thói quen trong đời sống cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, hay cả một nền văn hóa (Trần Đăng Khoa, 2013). Lối sống cá nhân được đặc trưng bởi các 123doc 8 nhìn về thực tại (thế giới quan), cá tính, bản sắc cá nhân (bản ngã hay cái tôi) cũng như những ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh như gia đình, nơi sinh sống, giáo dục, văn hóa và đặc biệt là truyền thông. Lối sống có tác động trực tiếp đến sức khỏe của cá nhân và cộng đồng.
Ở những người nghiện thuốc lá, rượu bia, ma túy. ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe. Hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây nhiều bệnh tật và tử vong cao. Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá (2010) được Chính phủ phê duyệt đang có những nỗ lực để hạn chế nhiều hơn tác hại của thuốc lá.
Rượu bia có thể mang lại tác dụng tích cực nhất định, song đây cũng là tác nhân lớn dẫn đến tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bạo lực và nhiều bệnh tật khác, đặc biệt lạm dụng rượu bia là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm thần với các biểu hiện hoang tưởng, trì trệ trí tuệ, tâm thần phân liệt. Lạm dụng rượu bia còn gây ra các gánh nặng lớn về kinh tế cho xã hội chủ yếu do chi phí khám chữa bệnh và thiệt hại do tai nạn. Do đó, có thể thấy yếu tố lối sống có tác động trực tiếp đến nhu cầu kiểm tra sức khỏe.4 Điều kiện kiểm tra sức khỏe Điều kiện kiểm tra sức khỏe là những nguồn lực về sơ sở vật chất hỗ trợ việc kiểm tra sức khỏe cho người dân như bảo hiểm y tế (BHYT) và điều kiện địa lý tiếp cận với cơ sở y tế. BHYT được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận mà bản chất dựa trên nguyên lý tập hợp và chia sẻ rủi ro về sức khỏe, bệnh tật.
BHYT sẽ giúp giảm rủi ro và tăng sự bảo vệ về tài chính đối với mỗi cá nhân đứng trước nguy cơ tổn thất về tài chính do ốm đau, bệnh tật. Mức độ chia sẻ rủi ro của hệ thống tài chính y tế càng lớn thì người dân càng giảm bớt gắng nặng tài chính do nguy cơ ốm đau và càng dễ tiếp cận được các dịch vụ khám chữa bệnh khi cần thiết. Khi ốm đau phải sử dụng các dịch vụ y tế, các cá nhân tham gia BHYT sẽ được chi trả, đền bù các chi phí phát sinh. 123doc 9 Chi phí dịch vụ có ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người nghèo (Phạm Thị Mận, 2010).
Hệ thống tài chính y tế dựa vào BHYT được xem là nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tiếp cận y tế khi có nhu cầu kiểm tra sức khỏe và sự bảo vệ về tài chính khi ốm đau. Ngoài ra, điều kiện kiểm tra sức khỏe còn được đánh giá qua việc tiếp cận về địa lý tức là khoảng cách tới các cơ sở y tế. Đây là một khía cạnh ảnh hưởng tới nhu cầu kiểm tra sức khỏe của người dân. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Lương khi nghiên cứu về tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Hà Nội, Yên Bái, Thanh Hoá cho thấy có sự khác biệt về khoảng cách cũng như thời gian của người dân khi tiếp xúc với cơ sở y tế và điều đó cũng ảnh hưởng đến nhu cầu kiểm tra sức khỏe của người dân.
Ở Hà Nội, hầu như người dân không gặp trở ngại gì về khoảng cách khi tiếp cận bệnh viện, còn tại Thanh Hoá và Yên Bái thì tỷ lệ hộ cách xa bệnh viện trên 60 phút đi bằng phương tiện thông thường lần lượt là 41,3% và 54% (Nguyễn Thế Lương, 2002). Sự khác biệt về thời gian tiếp cận với bệnh viện là một trong những nguyên nhân gây mất công bằng trong tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh cũng như nhu cầu kiểm tra sức khỏe của người dân ở những vùng khác nhau. Nhóm yếu tố về khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế: nhóm này không chỉ bao gồm khoảng cách đường đi mà còn chất lượng đường xá, phương tiện giao thông thông thường và các biến động vào thời tiết, mùa. Tổng hợp lại có thể đo thời gian đi bằng phương tiện thông thường từ nhà tới cơ sở y tế (càng tốn thời gian để đi đến cơ sở y tế, càng khó tới đó và sự tiếp cận về khoảng cách càng thấp).5 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.