CHƯƠNG I: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYET 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1. Tổng quan tài liệu liên quan hiệu quả và đo lường hiệu quả Trên thế giới và tại Việt Nam có rất nhiều bài nghiên cứu sử dụng tiếp cận đo lường hiệu quả dưới các phương pháp ước lượng và ngành nghề khác nhau. Có hai cách tiếp cận chính là phương pháp tham số (phương pháp biên ngẫu nhiên SFA, phương pháp TFA, phương pháp DFA) và phương pháp phi tham số (phương pháp phân tích bao dit liệu DEA, phương pháp Xử lý yếu tô tự do Hull FDH) thường được sử dụng dé đo lường hiệu quả [6].
Bài nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới tong quan các tài liệu liên quan đến hiệu quả và đo lường hiệu quả phi tham số trong nhiều loại hình sản xuất và kinh doanh khác nhau. Trên thế giới Tại nước ngoài, có rất nhiều bài nghiên cứu liên quan đến hiệu quả và đo lường hiệu quả của các doanh nghiệp. Phân tích 238 mẫu số liệu khảo sát từ những công ty đồ chơi tại miền Nam Trung Quốc, Vincent [55] đã ứng dụng mô hình DEA từ đó ước tính được hiệu quả kỹ thuật của những công ty này. Nhóm tác giả cũng sử dụng mô hình hồi quy để nghiên cứu anh hưởng của đòn bay đến hiệu qua và hiệu quả đến lợi nhuận.
Ngoài ra, Carlos [68] cũng đánh giá đánh giá năng suất hiệu quả của các công ty dot com thông qua mô hình DEA. Bài nghiên cứu sử dụng 02 đầu ra là số lượng khách truy cập và doanh thu; 03 yếu tô đầu vào là tai sản, công nhân và các loại chi phí dé tính toán được hiệu quả của các công ty. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích đa biến đồng (Principle components analysis - PCA) đề ra mối quan hệ giữa loại hình kinh doanh và cách thức đạt được hiệu quả. Khan [52] cũng đã sử dụng phương pháp phân tích bao dit liệu (DEA) và chỉ số Malmquist dé tính hiệu qua kỹ thuật, hiệu quả quy mô của công ty bảo hiểm Takful so với các công ty bảo hiểm khác tại Pakistan.
Trong ngành sản xuất thực phẩm, Singh [27] đã chỉ ra những thay đổi về năng suất hiệu quả trong 12 các giai đoạn của các ngành sản xuất thực phẩm tại Án Độ thông qua phương pháp DEA và chỉ số Malmquist. Bài nghiên cứu cũng đánh giá được hiệu quả theo các yêu tô đầu vào được sử dụng trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và xác định được nguyên nhân của sự kém hiệu quả đó. 5 Dé đánh giá tác động của việc tiếp cận tín dụng chính thức đối với hiệu quả kỹ thuật hộ gia đình nông thôn ở Trung Quốc, Zhao [78] đã tiếp cận thông qua mô hình DEA. Bài nghiên cứu đã dựa trên dữ liệu điều tra các hộ gia đình nông thôn tại tỉnh Sơn Đông, miền Bắc Trung Quốc và chỉ ra hiệu quả kỹ thuật nông thôn ở cấp hộ gia đình trong việc xem xét các hoạt động phi nông nghiệp.
Sau đó, bài nghiên cứu áp dụng hồi quy Tobit để xem xét ảnh hưởng của các hạn chế tín dụng đối với hiệu quả kỹ thuật của hộ gia đình. Trong ngành ngân hàng, Zimková [79] đã ứng dụng ba loại mô hình DEA gồm mô hình BCC của Banker, Charnes và Cooper, mô hình SBM của Tone và mô hình SBM siêu hiệu quả của Tone dé phân tích và xếp hạng hiệu quả kỹ thuật của 10 ngân hàng thương mai tai Slovakia trong năm 2012. Hay George Assaf [32] cũng đã phân tích hiệu quả kỹ thuật của 10 ngân hàng tại A Rap Xê Út trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2007 bằng cách sử dụng phương pháp DEA hai giai đoạn gồm: mô hình DEA với giả định hiệu suất thay đổi theo quy mô (VRS) và mô hình hồi quy (bootstrapped truncated regression model). Bài nghiên cứu xác định được điểm hiệu quả kỹ thuật của từng ngân hàng và ý nghĩa của các biến độc lập đối với hiệu quả kỹ thuật, từ đó đưa ra hàm ý chính sách phù hợp.
Tại Việt Nam Trong ngành nông nghiệp, Thái Thanh Hà [16] đã ứng dụng mô hình DEA để tính toán các chỉ số hiệu quả kỹ thuật và chỉ số hiệu quả chi phí của 122 hộ gia đình sản xuất cao su thiên nhiên tai tỉnh Kon-Tum (Tây Nguyên). Bang phương pháp hồi quy Tobit, tác giả đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trình độ học van của chủ hộ, vốn vay đầu tư sản xuất cao su, số cây cao su mở miệng cạo, và hệ số kỹ thuật của lao động đến các hiệu hiệu quả trên. Hay dé phân tích hiệu quả kỹ thuật của các trang trại nuôi tôm st thương phẩm tại Thành phố Nha Trang, Đặng Hoàng Xuân Huy [1] cũng sử dung mô hình DEA tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp quy mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (CRS) với hai biến đầu ra và năm biến đầu vào. Đối với các doanh nghiệp, Nguyễn Trường Son [13] đã sử dụng mô hình DEA dé đánh giá ảnh hưởng của R&D đến kết quả kinh doanh của 40 doanh nghiệp sản xuất và xuất khâu đồ gỗ tại Bình Định.
Kết quả cho thấy hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp này đêu thâp và có xu hướng giảm. Từ kêt quả nghiên cứu, tác giả đê xuât một sô hàm ý chính sách giúp các doanh nghiệp sản xuất, xuất khâu gỗ cải thiện hiệu quả kỹ thuật. Trong ngành ngân hàng, Nguyễn Thị Ha Thanh [16] đã sử dụng phương pháp DEA dé đánh giá hiệu quả hoạt động của 23 Ngân hàng Thương mại cổ phan tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016. Bài nghiên cứu đã ước lượng được hiệu quả hoạt động cua hệ thống ngân hàng bao gồm hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency), hiệu quả quy mô (Scale Efficiency), hiệu quả phân bổ (Allocation Efficiency) và hiệu quả hoạt động chung (hiệu quả chi phí).
Bên cạnh đó, Nguyễn Thi Thuy Huong và cộng sự [12] cũng đã đo lường hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hai giai đoạn, trước và trong đại dich COVID-19 bang phương pháp DEA. Ngoài ra, các yêu tố ảnh hưởng đến sự hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này được phân tích bang mô hình hồi quy Tobit. Tổng quan tài liệu liên quan các yếu té ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 1. Trên thế giới Ngân hàng là một trong những nhân tố quan trọng của nền kinh tế, do đó, hoạt động ngân hàng gan liền với sự chuyền động của nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, sự hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ngày càng được chú trọng. Với sự phát triển của nền kinh tế thế thế giới, nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra các yếu tố giúp ngân hàng ngày càng phát triển hơn. Assaf [32] đã phân tích hiệu quả kỹ thuật của 10 ngân hàng tại Ả Rập Xê Út trong giai đoạn 1999-2007 bằng cách sử dụng phương pháp bao dữ liệu DEA hai giai đoạn để tiếp cận phân tích. Trong giai đoạn đầu tiên, tac gia sử dụng mô hình DEA — VRS dé xác định hiệu quả hoạt động của ngân hàng với 3 yêu tố đầu vào gồm: Tổng số lao động, tài sản cô định và tổng tiền gửi; 3 yếu tố đầu ra: Tổng dư nợ cho vay khách hang, chứng khoán và cho vay liên ngân hàng.
Trong giai đoạn thứ hai, tác giả tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy với biến độc lập: Logarit cơ số tự nhiên của tổng tài sản, tính thanh khoản, tỷ suất lợi nhuận ròng, tỷ lệ thanh toán, mô hình sở hữu để giải thích cho hiệu quả kỹ thuật. Kết qua cho thay các ngân hang A Rap Xê Ut đã liên tục cải thiện hiệu quả ké từ năm 2004. Các ngân hàng có vốn nước ngoài phải cải thiện hoạt động của họ. Tại Libya, Alrafadi [28] đã phân tích so sánh liên quan đến hoạt động của 17 ngân hàng Libya trong giai đoạn 2004-2010.
Bằng các kết hợp phương pháp DEA và hồi quy Tobit dé đánh giá mức độ hiệu quả và sau đó kiểm tra các yếu tố quyết định hiệu qua đối với lĩnh vực ngân hàng ở Libya. Trong nghiên cứu này, kỹ thuật DEA đã được sử dụng để ước tính hiệu quả kỹ thuật, kỹ thuật thuần và quy mô của các ngân hàng được lay mẫu bang cách sử dung phần mềm DEAP với việc sử dụng 3 đầu vào: Số lượng nhân viên (x1), tổng tài sản cố định (x2) và tiền gửi (x3); 2 đầu ra: Thu nhập cho vay (y1), lợi nhuận sau thuế (y2). Tiếp đó, mô hình hồi quy Tobit được sử dụng dé xác định các yếu tố tiềm năng quyết định hiệu quả. Các yếu tố được xem xét gồm: ROA, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, Logarit co số tự nhiên của tong tài sản, Logarit cơ số tự nhiên của tổng tiền gửi, mô hình sở hữu, giá trị số sach/tong tài sản.
Các kết quả cho thấy các ngân hàng chuyên doanh đã thể hiện hiệu quả kỹ thuật trung bình cao hơn so với và các ngân hàng tư nhân. Kết quả của các yếu tố quyết định hiệu quả cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa hiệu quả ngân hàng với ROA, quy mô hoạt động, đủ vốn, và các ngân hàng liên kết của chính phủ (sở hữu của chính phủ). Hay hệ thống 17 ngân hàng Hồi giáo tại Malaysia được tác giả Sufian [73] phân tích với dữ liệu từ năm 2006-2010. Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp DEA dé tính toán mức hiệu qua chi phí, doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng với dữ liệu gồm: 2 đầu vào là Tổng tiền gửi, Chi phí lao động; 2 đầu ra Tổng cho vay, doanh thu.
Ở giai đoạn tiếp theo, các biến độc lap: Logarit co số tự nhiên của tổng tài sản, LLR, Vốn chủ sở hữu/tông tài sản, Tổng cho vay/téng tài sản, Chi phí hoạt động/tông tài sản, Logarit cơ số tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), CPI, Loại hình sở hữu được dùng dé đánh giá tác động lên các biến phụ thuộc về hiệu quả sau khi sử dung DAE thông qua mô hình hồi quy đa biến. Kết quả chỉ ra rang các ngân hàng Hồi giáo trong nước có mức hiệu quả doanh thu thấp hơn so với ngân hàng nước ngoài ngang hàng. Tác giả nhận thấy rằng Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản và Tổng cho vay/tong tai sản có mối quan hệ tích cực và quan trọng với hiệu quả doanh thu của các ngân hàng Hồi giáo. Kết quả chỉ ra rằng các tác động không đồng nhất giữa các ngân hàng Hồi giáo với các hình thức sở hữu khác nhau.