Chương 1 HỘI NHẬP KINH TÊ QUỐC TÊ VÀ NĂNG L ự c CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. XU THÊ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Khái quát về xu thế toàn cầu hoá trên thế giới [38, 21]. Trong nửa cuối thế kỉ XX và đặc biệt là trong thập kỉ 90, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành vấn đề thời sự trên toàn thế giới, hiện diện trong nhiều mặt đời sống kinh tế- xã hội ở hầu hết các quốc gia.
Chính sự tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia trên phạm vỉ toàn cầu đã làm xuất hiện thuật ngữ toàn cầu hoá. Thuật ngữ toàn cầu hoá mới chỉ xuất hiện khoảng 2 thập niên gần đây, nhung xu hướng toàn cầu hoá kinh tê đã hình thành và phát triển qua một chặng đường lịch sử khá dài. Trên phương diện kinh tế, xu thế này bắt đầu vào thế kỷ thứ XVII với quá trình quốc tế hoá trong hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ hay những nhân tố sản xuất giữa các đơn vị kinh tế riêng rẽ ở các quốc gia khác nhau và quá trình này bị chi phối bởi cung và cầu. Đây chính là thời kì đầu của CNTB và tiếp theo đó là thời kì phát triển của CNTB tự do cạnh tranh, mà đặc trưng của thời kì này là sự phát triển của xuất khẩu hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, lưu thông vượt biên giới quốc gia và hình thành phân công lao động quốc tế, thì xu hướng quốc tế hoá trở thành tất yếu. Đại công nghiệp cơ khí, một mặt, tăng năng suất lao động, làm ra nhiều hàng hoá nên đòi hỏi nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, mặt khác tạo ra những phương tiện giao thông tối tân có khả năng vượt đại dương, xuyên lục địa, chuyển nguyên liệu từ xa về và chở hàng hoá đến khắp mọi nơi để trao đổi, hình thành thị trường thế giới. Thị trường thế giới lại thúc đẩy thương nghiệp, hàng hải phát triển và tác động trở lại công I nghiệp. Như vậy, chính sự phát triển sản xuất và tiêu dùng làm cho các dân tộc, các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn.
Vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật kích thích tích tụ, tập trung tư bản và sản xuất, tạo ra sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đây sự chuyên biên từ CNTB tự do cạnh tranh sang CNTB độc quyền. Ở một số nước TBCN, việc tích luỹ tư bản đạt tới qui mô rất lớn, làm xuất hiện nhu cầu xuất khẩu tư bản ra nước ngoài. Chính vì vậy xuất khẩu tư bản trở thành đặc trưng cua CNTB độc quyen, khac VƠI trong thời kì CNTB tự do cạnh tranh có đặc trưng là xuất khẩu hàng hoá. Phù hợp với tiến trình này là sự phát triển các công ty đa quốc gia (multinationalisation), xuất hiện vào thế kỷ thứ 19, bao hàm sự thao túng các hoat động kinh tế xuyên quốc gia của các công ty then chôt trong hẹ thong kinh tế quốc gia.
Nếu quá trình quốc tê hoá được tạo nên bơi sự luan chuyên hàng hoá dịch vụ giữa các đơn vị kinh tế ở những quốc gia khác nhau thì quá trình phát triển của các công ty đa quốc gia biểu hiện bởi sự liên kết và phối hợp hoạt động giữa các công ty riêng biệt nhưng mở rộng ra phạm vi nhiều quốc gia. Trong vòng 50 năm trở lại đây, toàn cầu hoá đã được thúc đẩy mạnh mẽ hơn bao giờ hết, các mối quan hệ quốc tế phát triển nhanh chóng (so với những năm đầu của thế kỷ 20) với sự kiện tổ chức Liên hợp quốc được thành lập và ngày càng hoàn thiện (tổ chức này đã giải quyêt vân đê khac biẹt ve chính trị giữa các quốc gia), hay sự ra đời của Hiệp ước chung vê thuê quan và thương mại (GATT)- nay là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)- đã tạo nên một hê thống quy tắc cho các quốc gia phát triên các chinh sach thương mại của mình. Đây cũng là giai đoạn kết thúc của chủ nghĩa thực dân và xuất hiện một nhân tô mới, đó là tính độc lập trong quan hệ giữa cac quoc gia. Nam 1994 vòng thương lượng Uruguay (Uruguay Round) trong khuôn khô GATT cho thấy lần đầu tiên các nước phát triển bắt đầu chú trọng đến những vấn đề thương mại quốc tế đa phương trên phạm vi rộng.
Trong những năm cuối thế kỉ XX, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo ra một bước ngoặt mới cho toàn cầu hoá. Công nghệ thông tin đã bao trùm 6 hầu hết các lĩnh vực của đời sống nhân loại và về thực chất, nó là một hiện tượng kinh tế. Toàn cầu hoá giai đoạn này mang những dặc trưng mới, được trợ giúp bởi công nghệ thông tin. Chính ba nhân tố công nghệ- kĩ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn câù hoá, làm cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia khác.
Vì vậy, toàn cầu hoá ngày nay là sản phẩm của văn minh nhân loại và do đó, là cơ hội để các quốc gia đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá hiện nay đang là một trong những chủ đề nhất thiết phải có trong mọi phân tích chính trị cũng như kinh tế. Tất cả mọi thứ dường như đều đang trong tiến trình toàn cầu hoá: sản xuất, tiêu dùng, thương mại, tài chính, và cả việc làm, lối sống, kiến trúc, thậm chí cả thời trang, âm nhạc,. Tuy nhiên, toàn cầu hoá lại là một khái niệm có tính trừu tượng cao và không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào mà có thể coi là một quá trình xã hội.
Vì vậy, không dễ dàng đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh và được thừa nhận rộng rãi về toàn cầu hoá. Thật vậy, trong tháng 4/2000, Diễn đàn Phát triển của Ngân hàng Thế giới đã tổ chức một cuộc tranh luận trực tuyến qua Internet về các vấn đề xoay quanh toàn cầu hoá, Diễn đàn đã thu hút được 5.000 người thuộc nhiều thành phần trên toàn thế giới tham gia, bao gồm các viện sĩ, giáo sư, các nhà kinh tế và những cá nhân quan tâm cũng như một số nhà nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới. Các tranh luận về toàn cầu hoá dù bao gồm nhiều ý kiến trái ngược nhau, đều không xa rời một điểm chung: quá trình toàn cầu hoá được hiểu như là một sự tăng cường các mối quan hệ qua lại. Sự tăng cường các mối quan hệ này có thể được chấm phá qua ba mệnh đề then chốt: phụ thuộc, dịch chuyển và tập trung.
Phụ thuộc để chỉ tác động của mối quan hệ giữa các hoạt động trên phạm vi toàn cầu lên các sự kiện địa phương. Chẳng hạn như ảnh hưởng của việc sụt giá đồng baht Thái lan lên các thị trường chứng khoán ở Mỹ. Dịch chuyển để chỉ việc xê dịch trọng tâm các nơi thực hiện chức năng, rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Chẳng hạn, hiện nay 7 trong lĩnh vực kinh tế, các nước đã chuyển sản xuất tới những nơi, địa điểm, quốc gia thuận lợi về phát triển kinh tế, môi trường, pháp lí và thuế quan.
Từ đó mở ra mối quan hệ biện chứng trên phạm vi quốc tế. Từ thực tế này dẫn đến gia tăng nhu cầu về kiểm soát và điều phối, mà hướng giải quyết phổ biến là tập trung các chức năng kiểm soát và điều phối về một điểm, xuất hiện quá trình tập trung hóa trong mỗi mạng lưới của các hoạt động. Một ví dụ của quá trình này là sự xuất hiện hiện tượng các “thành phố toàn cầu“ (global city) như những “điểm kiểm soát” (locus of control), nơi tập trung cao độ các hãng bảo hiểm, các ngân hàng, các dịch vụ tài chính, nhà đất, cố vấn pháp luật, kiểm toán và hiệp hội. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về toàn cầu hoá sử dụng trong nghiên cứu của luận văn như sau: Toàn cầu hoá là một quá trình, là giai đoạn phát triển mới của hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó khoảng cách địa lý không còn là nhân tô quan trọng trong việc thiết lập và duy trì các mối liên hệ kinh tê, chính trị và văn hoá- xã hội bên ngoài gianh giới quốc gia.
Những mạng lưới các mối hên hệ và phụ thuộc phức tạp trên tồn tại khắp nơi th ế giới vượt ra ngoài đường biên giới của các quốc gia. Các đặc trưng cơ bản của toàn cầu hoá [38]. Toàn cầu hoá kinh tế trong thời kì bùng nổ công nghệ thông tin có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất: Toàn cầu hoá kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự lưu chuyển xuyên quốc gia của các dòng tiền vốn. Đó chính là toàn cầu hoá về tài chính, là đặc trưng nổi bật chi phối các quá trình tự do hoá về thương mại, dịch vụ và đầu tư đã kết với nhau thành một mạng trên qui mô toàn cầu.
Nhờ sự trợ giúp của công nghệ thông tin, 95% nền kinh tế tài chính đã nằm trong một thế giới "ảo", vận động trên các xa lộ thông tin; tiến trình nhất thể hoá tiền tệ sẽ tăng nhanh, hình thành các đồng tiền chung của các khu vực; hoạt động ngân hàng 8 sẽ phát triển dựa trên sự phát triển của công nghệ thông tin. Với đặc trưng này, chính sách tài chính- tiền tệ của Chính phủ các quốc gia phải hành động theo hướng vừa giảm bớt sự can thiệp vào hoạt động của các dòng vốn, vừa phai ứng phó kịp thời, linh hoạt và hiệu quả với các sự kiện xuất hiện trên thị trường tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế đã đặt ra. T hứ hai: Trong nền kinh tế toàn cầu xuyên quốc gia, quản lí vĩ mô, dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trở thành yếu tô có tính chất quyết định tương lai phát triển của nó. Như vậy, tính chất xã hội sản xuất qui mô lớn trên phạm vi toàn cầu xác lập vai trò quyết định và năng động của công tác quản lí.
T hứ ba: Do sự phụ thuộc chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia, các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính đều được gia tăng mạnh mẽ và bắt buộc mọi nền kinh tế đều tham gia vào một kiểu thị trường thế giới thống nhất- một sân chơi chung bình đẳng cho mọi nền kinh tế- bất kể nền kinh tê đó thuộc trình độ và xuất phát điểm phát triển như thế nào.