Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng HTNH và mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH. Nội dung trình bày là cơ sở lý luận làm căn cứ khoa học nhằm nghiên cứu/đề xuất mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH. Chương 2: Vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng HTNH VN. Phần này nêu lên các nhân tố tác động đến sự ổn định của HTNH VN cũng nhƣ các biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Qua đó, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng mô hình và vận dụng mô hình cảnh báo sớm khủng hoảng HTNH VN. Chương 3: Đề xuất hoàn thiện mô hình cảnh báo sớm và các biện pháp phòng ngừa rủi ro HTNH VN. Vận dụng kết quả nghiên cứu ở chƣơng 2 để đƣa ra các đề xuất hoàn thiện mô hình cảnh báo sớm và các biện pháp phòng ngừa khủng hoảng HTNH một cách hợp lý, an toàn và hiệu quả cao. 123doc 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ MÔ HÌNH CẢNH BÁO SỚM KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.
Tổng quan về khủng hoảng hệ thống ngân hàng: 1. Khái niệm khủng hoảng hệ thống ngân hàng: Có rất nhiều khái niệm về khủng hoảng HTNH, trong đó có một số đƣợc coi là khá toàn diện vì chúng hàm chứa đƣợc những nguyên nhân, biểu hiện cũng nhƣ hậu quả của các cuộc khủng hoảng HTNH. Nghiên cứu của Luc Laeven & Fabian Valencia (2005) cho rằng, khủng hoảng HTNH sẽ xảy ra, khi khu vực tài chính và doanh nghiệp của một quốc gia rơi vào tình trạng không đủ khả năng trả nợ, đồng thời các định chế tài chính và các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với các khó khăn nghiêm trọng trong việc trả các hợp đồng đúng hạn. Kết quả là, các khoản nợ xấu tăng mạnh khiến cho phần lớn hoặc là tất cả vốn của toàn bộ HTNH sẽ bị cạn kiệt.
Trong khi đó, Theo Demigru – Kunt & Detragiache, đƣợc biết đến lần đầu tiên vào năm 1998, sau đó bổ sung vào năm 2002 và 2004 cho rằng, khủng hoảng HTNH xảy ra nếu có ít nhất là một tiêu chí sau đây xảy ra: (1) Tỷ lệ nợ xấu so với tổng vốn cho vay trong HTNH vƣợt quá 10%; (2) Chi phí cho hoạt động cứu trợ ngân hàng tối thiểu bằng 2% GDP; (3) Giai đoạn cứu trợ kéo theo hoặc là quốc hữu hóa các ngân hàng ở quy mô lớn, hoặc là hiện tƣợng rút tiền gửi ồ ạt khỏi ngân hàng, hoặc các biện pháp khẩn cấp khác nhƣ đóng băng tiền gửi, cho phép ngân hàng nghỉ giao dịch, phát hành bảo lãnh chính phủ. Tóm lại, có nhiều khái niệm về khủng hoảng HTNH, nhƣng không mâu thuẫn với quan điểm cho rằng, khu vực tài chính ngân hàng là hàn thử biểu của nền kinh tế và đều đề cập đến tình huống: “Tổn thất thực tế hoặc ước tính trong hoạt động ngân hàng khiến một loạt các ngân hàng không còn khả năng thanh toán các khoản nợ cho khách hàng hoặc buộc chính phủ phải can thiệp không cho tình trạng đó lan ra trên diện rộng gây thiệt hại cho nền kinh tế, hoặc làm tê liệt HTNH”1. 1 Theo IMF, 1998 123doc 2 1. Nguyên nhân khủng hoảng hệ thống ngân hàng: 1.
Nguyên nhân liên quan đến các yếu tố vi mô: Các yếu tố vi mô có thể trở thành những yếu tố quan trọng gây nên sự suy sụp của HTNH, cụ thể là chất lƣợng của toàn bộ khuôn khổ quy định, thể chế của đất nƣớc. Qui chế thị trƣờng yếu kém do những yếu tố nhƣ: công bố thông tin hạn chế, quản trị ngân hàng yếu kém, bảo hiểm tiền gửi quá mức hoặc hệ thống giám sát yếu kém có thể quyết định tới mức độ lệch lạc của thông tin, chất lƣợng quản lý ngân hàng nên tạo ra những yếu tố dễ bị tổn thƣơng và cuối cùng là gây nên khủng hoảng HTNH. - Bùng nổ cho vay và sụt giá tài sản: Theo một trƣờng phái kinh tế, khủng hoảng ngân hàng do việc cho vay với số lƣợng lớn và tài trợ vốn không hiệu quả trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh doanh. Một cuộc khủng hoảng xảy ra khi “bong bóng” bị nổ.
Ba đặc điểm sau của những cuộc khủng hoảng gần đây đã chứng minh cho quan điểm nói trên: (1) Bùng nổ cho vay của ngân hàng và giảm giá cổ phiếu thƣờng diễn ra trƣớc khủng hoảng ngân hàng; (2) Những nƣớc mới nổi có dòng vốn đầu tƣ lớn là những nƣớc mở rộng khu vực ngân hàng thƣơng mại nhanh nhất; (3) Sự lạc quan quá mức về hiệu quả của cải cách chính trị tại những nƣớc mới nổi. Quan điểm này, dựa theo giả thiết rằng, khó phân biệt những khoản tín dụng rủi ro thấp và những khoản tín dụng rủi ro cao khi nền kinh tế mở rộng quá nhanh, bởi vì ngƣời đi vay thƣờng có lợi nhuận và tính thanh khoản tạm thời rất cao, thay đổi đột ngột về giá tài sản cố định và cổ phiếu làm căng thẳng khủng hoảng (tập trung cho các khoản vay quá nhiều) và giảm giá tài sản đẩy giá trị thị trƣờng của tài sản thế chấp xuống. Tại Mỹ La Tinh, cũng nhƣ một số nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ: Phần Lan, Nauy, Thụy Điển, Nhật Bản và Mỹ, khủng hoảng ngân hàng xảy ra sau bùng nổ cho vay. Bùng nổ cho vay dƣới tiêu chuẩn tại Mỹ dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng năm 2008, và nghiêm trọng hơn đã lan rộng trên toàn cầu.
Các ngân hàng đầu tƣ nhƣ: Lehman Brothers tại Mỹ và các ngân hàng bán lẻ nhƣ Northern Rock tại Anh đã phải đóng cửa vào năm 2008. Tháng 2/2009, một vài 123doc 3 ngân hàng chính của Anh nhƣ Lloyds TSB và Barcllys Bank, đã gần sụp đổ khi giá cổ phiếu giảm trầm trọng tại Thị trƣờng chứng khoán London. - Năng lực của hệ thống ngân hàng: Một số HTNH vững chắc với độ thanh khoản và dự trữ vốn cao, có khả năng hạn chế rủi ro, có thể giúp một nền kinh tế vƣợt qua đƣợc thời kỳ bị rút vốn đột ngột. Ngƣợc lại, một HTNH, trong đó, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao cộng với chất lƣợng tài sản thấp, thiếu các biện pháp bảo đảm rủi ro tiền tệ và khả năng về vốn sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng mất ổn định trƣớc nguy cơ vốn bị rút đột ngột.
- Quản trị ngân hàng và công khai tài chính không hiệu quả: Những quy định về công khai tài chính không thực thi và kém tác dụng làm suy yếu khả năng kiểm soát rủi ro trong khu vực ngân hàng, góp phần tạo nên sự phân bổ vốn không hiệu quả. Các tiêu chuẩn kế toán - kiểm toán hoặc chất lƣợng không cao, không phù hợp, thiếu các quy định công khai tài chính đối với ngân hàng (kể cả thực chất tình trạng rủi ro), hay việc thực thi các quy định đó không có hiệu quả đều là những vấn đề thực tế ở một số quốc gia, làm giảm khả năng kiểm soát rủi ro và chất lƣợng của các quyết định cho vay. Tƣơng tự, các công cụ quản lý không thích hợp gồm cả sự phân giao trách nhiệm cụ thể cho giám đốc, các quy định giải quyết xung đột về lợi ích và quyền lợi cho cổ đông hoặc có các quy định này mà thực hiện không hiệu quả cũng dẫn tới năng lực quản lý rủi ro kém. - Thiếu cạnh tranh trong khu vực ngân hàng: Khi thiếu sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thì hệ thống tài chính dễ bị tổn thƣơng và sẽ dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động với tƣ cách là trung gian phân phối nguồn vốn.
Khi các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc tế lớn áp dụng các chiến lƣợc cạnh tranh mới sẽ có thể củng cố năng lực quản lý rủi ro của hệ thống tài chính. Vì vậy, các thành viên tham gia thị trƣờng hiện tại có điều kiện tiếp cận các kỹ năng quản lý rủi ro trong các ngân hàng mới. Tuy nhiên, mở cửa hệ thống tài chính trƣớc môi trƣờng cạnh tranh cũng cần phải có các biện pháp tăng cƣờng năng lực quản lý rủi ro của những thành viên tham gia thị trƣờng mới. 123doc 4 - Năng lực nhận diện và hạn chế rủi ro kém: Một nhân tố cũng rất quan trọng là khả năng nhận diện, kiểm soát rủi ro và đƣa ra các quyết định cho vay của HTNH trên cơ sở đánh giá những rủi ro có liên quan.
Ví dụ, khi ngân hàng đƣa ra quyết định cho vay với sự tin cậy về giá trị thế chấp lớn hơn việc đánh giá cẩn thận về khả năng trả nợ của ngƣời vay, điều này có thể khiến quyết định cho vay đó sẽ không có chất lƣợng và sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Trong trƣờng hợp nghiêm trọng hơn, việc quản lý rủi ro kém còn dẫn tới sự giảm sút chất lƣợng tài sản và khả năng thanh toán, thậm chí tiềm tàng nguy cơ bất ổn về tài chính trên diện rộng. Hậu quả trầm trọng nhất phát sinh khi khả năng kiểm soát rủi ro trong HTNH yếu kém trƣớc quá trình tự do hóa nhanh chóng của khu vực tài chính và tài khoản vốn mà không đi kèm với các biện pháp nâng cao năng lực quản lý rủi ro. Điều này đặc biệt đúng, khi HTNH phát triển từ một môi trƣờng đƣợc bảo hộ, nền kinh tế bị điều tiết mọi mặt.
Khi đó, HTNH không có điều kiện hay nhu cầu phát triển khả năng nhận diện, giám sát và quản lý rủi ro nữa. Khi không còn sự kiểm soát nữa, ngân hàng nhanh chóng phải đối mặt với rất nhiều các rủi ro khác. Và nhƣ thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi tình trạng này có thể và thực tế, nó dẫn tới sự mạo hiểm và các quyết định cho vay kém chất lƣợng. Rủi ro này càng thêm phần phức tạp khi quá trình tự do hóa bao gồm cả việc mở cửa hệ thống tài chính trƣớc môi trƣờng cạnh tranh, theo đó tạo điều kiện cho các ngân hàng và tổ chức tài chính chấp nhận mạo hiểm hơn để duy trì thị phần.
Nguyên nhân liên quan đến chính sách kinh tế vĩ mô Các nhân tố vĩ mô (cú sốc do lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá hàng hoá, kinh tế suy giảm…) có thể là những yếu tố quyết định gây nên khủng hoảng. - Lãi suất: Lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ. Việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất có thể gây ra những cú sốc thị trƣờng gây ảnh hƣởng không tích cực đến sự ổn định của HTNH. Gần đây nhất, Ngân hàng Trung ƣơng Trung Quốc đã để cho lãi suất liên ngân hàng Thƣợng Hải (Shibor) biến động 123doc 5 mạnh và lên cao kỷ lục làm ngƣời dân rút tiền ào ạt.