Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu (16 trang) Chương 2. Cơ sở lý luận (9 trang) Chương 3. Phương pháp nghiên cứu (20 trang) Chương 4.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận (9 trang) Chương 5. Kết luận và gợi ý chính sách (5 trang) 123doc 6 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Sai sót thông tin trên BCTC là một đề tài nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Do vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu về đề tài này ở nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Nhìn chung có thể chia các cách tiếp cận thành hai nhóm chính. Nhóm 1: Các nghiên cứu sử dụng thước đo tài chính và phi tài chính để đánh giá khả năng sai sót thông tin trên BCTC. Nhóm 2: Các nghiên cứu xây dựng mô hình định lượng dự báo khả năng sai sót thông tin trên BCTC. Các nghiên cứu đƣợc công bố ở ngoài nƣớc 1.
Các nghiên cứu sử dụng thƣớc đo tài chính và phi tài chính để đánh giá khả năng sai sót thông tin trên BCTC Persons, O. Các doanh nghiệp trong mẫu chọn phải cùng lĩnh vực kinh doanh, cùng chính sách kế toán và chế độ báo cáo. Tác giả đã sử dụng 10 biến cho cả 2 mô hình, trong đó có 8 biến tỷ số tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các biến: đòn bẩy tài chính, vòng quay vốn, cấu trúc tài sản và qui mô doanh nghiệp là các nhân tố dự báo khả năng xảy ra gian lận BCTC hiệu quả nhất.
(1996) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ cấu ban giam đốc và gian lận BCTC. Tác giả đã phân tích hồi qui logistic để kiểm tra các giả thuyết đặt ra. Mẫu nghiên cứu bao gồm 150 công ty thương mại niêm yết, trong đó gồm có 75 công ty gian lận và 75 công ty không gian lận, một công ty gian lận đối ứng với một công ty không gian lận. Tiêu thức lựa chọn công ty đối ứng là: cùng niêm yết trên sàn chứng khoán (NASDAQ, AMEX, NYSE), cùng quy mô, cùng ngành và cùng kỳ kế toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: với ban giám đốc mà số lượng giám đốc được thuê từ bên ngoài nhiều thì sẽ ít gian lận BCTC hơn, việc thuê giám đốc bên ngoài sẽ giám sát, quản lý hiệu quả hơn từ đó ngăn chặn gian lận BCTC tốt hơn, quy mô và tính cách của các giám đốc được thuê từ bên ngoài tác 123doc 7 động đến khả năng xảy ra gian lận BCTC, cơ cấu hội đồng quản trị là yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn gian lận BCTC hơn sự hiện diện của ban kiểm soát. Nghiên cứu của Leuz, C. Nanda và cộng sự (2003) sử dụng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) để kiểm tra giả thuyết với chính sách bảo vệ nhà đầu tư tốt thì hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ giảm, kết quả nghiên cứu đã phù hợp với giả thuyết ban đầu, các quốc gia có nhà đầu tư bên ngoài với quyền sở hữu phân tán, chính sách bảo vệ nhà đầu tư tốt và thị trường chứng khoán lớn mức độ điều chỉnh lợi nhuận thấp hơn các quốc gia chủ yếu là nhà đầu tư trong nước với quyền sở hữu tập trung, chính sách bảo vệ nhà đầu tư thấp và thị trường chứng khoán kém phát triển. Amaechi và Nnanyereugo (2013) đã sử dụng mô hình tỷ số tài chính để phát hiện gian lận trong hệ thống các ngân hàng ở Nigerian, dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo của 20 ngân hàng trong giai đoạn từ 2004 đến 2008.
Tác giả dùng hồi quy logistic để phân tích dữ liệu từ mô hình tỷ số tài chính với 29 tỷ số tài chính đại diện cho 7 nhóm, kết quả nghiên cứu cho thấy có 16 tỷ số tài chính có ý nghĩa thống kê, hiệu quả trong việc dự báo gian lận BCTC. Lestari và Yadiati (2014) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô công ty, văn hóa tổ chức và chất lượng BCTC, bối cảnh nghiên cứu được thực hiện tại tổ chức tài chính ở Sharia. Tác giả đã sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modeling - SEM) và bình phương tối thiểu từng phần (Partial Least Square - PLS) để phân tích dữ liệu. Sau khi phân tích dữ liệu, tác giả đã đưa ra kết luận quy mô công ty không tác động đến chất lượng BCTC, trong khi đó yếu tố văn hóa thì tác động đến chất lượng BCTC.
Kanapickiene và Grundiene (2015) đã sử dụng 51 tỷ số tài chính để phát hiện gian lận trong BCTC, nghiên cứu được thực hiện trên 40 BCTC có gian lận và 125 BCTC không có gian lận, tác giả sử dụng hồi quy logistic và các kiểm định như: kiểm định Kolmogorov-Smirnov, kiểm định Mann-Whitney U và kiểm định T-test. Kết quả cho thấy các tỷ số tài chính liên quan đến tính thanh khoản, khả năng sinh lợi, cấu trúc và hoạt động của công ty sẽ dễ bị điều chỉnh nhất. 123doc 8 Zainudin và Hashim (2016) đã phân tích các tỷ số tài chính (như: đòn bẩy tài chính, tỷ số sinh lợi, cấu trúc tài sản, tính thanh khoản và vòng quay vốn) để nhận dạng gian lận BCTC, nghiên cứu sử dụng hồi quy logit với mẫu nghiên cứu là các BCTC được xác định có gian lận bởi trung tâm Bursa Malaysia. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các tỷ số: đòn bẩy tài chính, cấu trúc tài sản, nhóm các tỷ số sinh lợi và vòng quay vốn đều có ý nghĩa trong việc phát hiện gian lận BCTC.
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu liên quan đến phát hiện sai sót thông tin trên BCTC như: Zmijewski (1984), Freeman (1984), Schipper (1989), Pircus (1989), Summer và cộng sự (1998), Nieschweit và cộng sự (2000), Skonsen và cộng sự (2009), Lou và Wang (2011), Omar và cộng sự (2014), Amoa-Gyarteng (2014), Mavengere (2015),… Kết luận: Đề tài sai sót thông tin trên BCTC thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, qua kết quả nghiên cứu từ các nghiên cứu trên đã cho thấy được các thước đo tài chính hoặc thước đo phi tài chính đều có ý nghĩa trong việc dự báo khả năng sai sót thông tin trên BCTC, tùy thuộc vào điều kiện thu thập dữ liệu, chuyên môn của từng tác giả mà chọn thước đo nghiên cứu phù hợp. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung đưa ra các nhân tố tác động đến gian lận BCTC nhằm nâng cao khả năng phát hiện gian lận hoặc là hoàn thiện các nhân tố liên quan đến quản trị công ty để nâng cao chất lượng BCTC, nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên, các công trình nghiên cứu này chưa hướng đến chủ thể đầu tư, các công trình nghiên cứu này chủ yếu hướng đến kiểm toán viên và nhà quản trị công ty. Mặt khác các nghiên cứu sử dụng thước đo phi tài chính, việc thu thập được đầy đủ và chính xác các thông tin phi tài chính ở Việt Nam là một điều khó khăn đối với các nhà đầu tư. Do đó tác giả nghĩ rằng, trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam việc xây dựng mô hình dự báo với các thông tin tài chính có sẳn là cần thiết, mô hình này như là một công cụ giúp cho kiểm toán viên, nhà đầu tư và cơ quan quản lý TTCK phát hiện sai sót thông tin trên BCTC.
Các nghiên cứu định lƣợng xây dựng mô hình dự báo khả năng sai sót thông tin trên BCTC * Mô hình Atlman Z-score Đã có nhiều nghiên cứu về gian lận điển hình như Person (1995) nhận định rằng kiệt quệ tài chính là một trong những động cơ thúc đẩy hành vi gian lận báo tài chính, Duong (2011) nghiên cứu về hành vi chi phối thu nhập, (Altman và cộng sự, 1998) cũng nhận định rằng tình trạng tài chính của doanh nghiệp được xác định bởi hệ số Z-score, cũng có mối quan hệ với gian lận BCTC. Mô hình dự báo xác suất phá sản Z - score được giáo sư người Mỹ Edward I. Altman, trường kinh doanh Leonard N. Stern, thuộc trường đại học New York phát triển vào năm 1968.
Mô hình này được đánh giá là dự báo được một cách tương đối chính xác các doanh nghiệp sẽ bị phá sản trong vòng 2 năm thông qua việc xem xét đến giá trị Z - score. Mô hình này gồm 22 biến độc lập đại diện cho 5 tỷ số tài chính khác nhau (Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản, EBIT/Tổng tài sản, Giá trị thị trường của vốn CSH/Tổng nợ phải trả, Doanh thu/Tổng tài sản) với các trọng số khác nhau. Sau nhiều năm phát triển, mô hình được thay đổi một số đặc điểm kỹ thuật để việc vận dụng được thuận tiện hơn, Altman cũng xây dựng thêm 2 chỉ số Z’, Z’’, trong đó chỉ số Z” có thể được dùng cho hầu hết các ngành và các loại hình doanh nghiệp. Tùy vào loại hình doanh nghiệp mà áp dụng mô hình và ngưỡng phân loại phù hợp.
Chỉ số Z’’ giao động từ 1,1 đến 2,61, Z’’ < 2,61: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản, Z” > 2,61: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản, Z” < 1,1: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá sản cao. Nhìn chung thì chỉ số Z càng thấp thì chứng tỏ doanh nghiệp đang yếu kém về tài chính và khả năng thực hiện hành vi gian lận BCTC càng cao nhằm che đậy đi sự yếu kém đó. Tuy nhiên mô hình này cũng mắc phải nhược điểm như: không chỉ ra được thời gian phá sản dự kiến, ứng dụng mô hình để dự báo không như nhau đối với từng loại ngành công nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập dựa trên cơ sở tiền.
Theo cơ sở này, kế 123doc 10 toán chỉ ghi nhận khi có số tiền thực thu và thực chi. Do đó, không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận các giao dịch. Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra những khoản dồn tích (accruals) hay còn gọi là biến kế toán dồn tích. Theo DeAngelo (1986) cho rằng sự khác biệt về cách ghi nhận của hai phương pháp kế toán theo cơ sở tiền và cơ sở dồn tích tạo ra khe hở để nhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền.
Biến kế toán dồn tích (Accrual) là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.