Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán nội bộ trong DN Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán nội bộ tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị. Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp 1.
Bản chất và nguyên tắc của kiểm toán nội bộ 1. Bản chất của kiểm toán nội bộ Cùng với sự ra đời và phát triển rộng rãi của KTNB trên thế giới, có nhiều khái niệm về KTNB, mỗi khái niệm lại có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về KTNB. Khái niệm KTNB của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): “KTNB là một hoạt động đánh giá được lập ra trong DN như là một dịch vụ cho DN đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và KSNB” [12]. Khái niệm KTNB của Hiệp hội kế toán viên công chứng Anh (ACCA): “KTNB là hoạt động kiểm tra và đánh giá được thiết lập trong một tổ chức nhằm mục đích quản trị nội bộ đơn vị.
KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá sự phù hợp và hiệu lực của hệ thống kế toán và KSNB”. Khái niệm này nội dung cũng giống như khái niệm KTNB của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) [1]. Trong chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam VSA 610 - Sử dụng tư liệu của KTNB: “KTNB là một bộ phận trong hệ thống KSNB của một đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của đơn vị đó” [2]. Ba khái niệm trên về KTNB tuy ở 3 nước khác nhau nhưng quan điểm về KTNB lại có nhiều điểm giống nhau, cụ thể: (1) KTNB là một bộ phận được thành lập bên trong đơn vị; chức năng của KTNB là kiểm tra và đánh giá; (2) Đối tượng của KTNB là tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và KSNB.
Tại Việt Nam, KTNB tuy ra đời muộn nhất so với Kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập nhưng cũng đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về KTNB. Khái niệm về KTNB trong giáo trình “Kiểm toán nội bộ” xuất bản năm 2014 của Học viện Tài chính: “KTNB là một bộ phận độc lập trực thuộc cấp l nh đạo cao nhất thông qua việc thực hiện vai t , quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của mình để kiểm tra, rà soát, đánh giá và xác nhận một cách khách quan, trung thực mọi Luan van 9 thông tin, số liệu, hoạt động trong đơn vị nhằm kiến nghị, tư vấn cho các cấp l nh đạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động quản trị và đảm bảo mục tiêu đơn vị đề ra” [14, Tr. Theo khái niệm này thì KTNB có những đặc điểm sau: Thứ nhất, KTNB là một bộ phận độc lập với các bộ phận khác; Thứ hai, KTNB trực thuộc cấp lãnh đạo cao nhất của đơn vị; Thứ ba, hoạt động của KTNB là kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư vấn; Thứ tư, đối tượng của KTNB là tất cả các thông tin, số liệu và hoạt động trong đơn vị; Thứ năm, mục đích của KTNB là góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu lực quản lý trong đơn vị. Theo Phan Trung Kiên (2017) thì KTNB là một bộ phận của doanh nghiệp hay tổ chức thực hiện chức năng kiểm toán trong phạm vi của đơn vị và phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ của đơn vị [8, tr.
Theo quan điểm của tác giả thì KTNB là một bộ phận được xây dựng độc lập trực thuộc cấp l nh đạo cao nhất, với chức năng kiểm tra, đánh giá toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó đưa ra các ý kiến tư vấn nhằm nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp đ đề ra. Mỗi tổ chức đều đưa ra khái niệm riêng của mình về KTNB. Các khái niệm trên tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng bản chất lại đồng nhất với nhau về mục tiêu và chức năng của KTNB, cụ thể: * Mục tiêu của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp KTNB ra đời từ nhu cầu, đòi hỏi khách quan của quản lý, do đó để phục vụ đắc lực cho quá trình quản lý điều hành tổ chức, hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra lợi ích cho DN thì tùy từng yêu cầu của nhà quản lý và tùy từng đơn vị mà mục tiêu của KTNB có thể khác nhau.
Cụ thể, KTNB thường có những mục tiêu sau: Kiểm tra thông tin tài chính của các hoạt động: KTNB kiểm tra chi tiết các giao dịch, số dư và thủ tục về tài chính của các hoạt động. Đồng thời đánh giá các phương pháp xác định, đo lường, phân loại và báo cáo thông tin tài chính đó. Soát xét các hoạt động nghiệp vụ: KTNB có thể được giao việc soát xét tính kinh tế, tính hiệu quả của các hoạt động nghiệp vụ của đơn vị. Giám sát kiểm soát nội bộ: KTNB có thể được giao trách nhiệm trong việc Luan van 10 soát xét các kiểm soát, giám sát hoạt động và đề xuất cải thiện liên quan đến KSNB.
Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và các quy định: KTNB kiểm tra tình hình tuân thủ pháp luật, các quy định và các yêu cầu bên ngoài khác, cũng như tuân thủ các chính sách, quy định nội bộ của đơn vị được kiểm toán. QLRR: KTNB có thể hỗ trợ nhà quản lý trong việc QLRR, bao gồm việc nhận diện, đánh giá khả năng xảy ra cũng như thiệt hại khi rủi ro xảy ra. Đồng thời, tìm ra các biện pháp hạn chế rủi ro và giảm thiệt hại rủi ro. Theo quan điểm truyền thống, KTNB tập trung vào công tác kiểm tra kế toán và các thông tin tài chính của công ty do đó đối tượng chỉ là các BCTC.
Nhưng với quan điểm hiện đại thì đối tượng của KTNB được mở rộng hơn để phù hợp với mục tiêu của mình. Do đó đối tượng của KTNB bao gồm: (1) các báo cáo mà chủ yếu là BCTC và báo cáo quản trị; (2) thực trạng việc chấp hành luật pháp, chính sách chế độ và những quy định và (3) tính hiệu lực, hiệu quả và tính kinh tế của các hoạt động. * Chức năng của KTNB trong doanh nghiệp Với mục đích và đối tượng của KTNB như trên thì ta có thể rút ra 2 chức năng cơ bản của KTNB là: Kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư vấn. Thứ nhất: KTNB với chức năng kiểm tra, đánh giá và xác nhận: Chức năng này được cụ thể và chú trọng trong từng loại hình kiểm toán khác nhau, với từng tổ chức khác nhau.
Chức năng này thực chất là trình tự tác nghiệp của KTNB. Trước tiên với chức năng kiểm tra, KTNB sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét, đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu kế toán, tính tuân thủ pháp luật của các cá nhân, bộ phận trong đơn vị; tính hiệu lực, hiệu quả và kinh tế của các hoạt động. Thông qua kiểm tra, KTVNB đánh giá tính tin cậy của các thông tin, việc tuân thủ pháp luật và tính kinh tế của các hoạt động. Cuối cùng, KTVNB xác nhận thực trạng các thông tin đã kiểm tra, việc chấp hành chế độ luật pháp và tính hiệu lực của các hoạt động.
Thứ hai: KTNB với chức năng tư vấn: Chức năng này đóng vai trò quan trọng khi mà mong muốn cuối cùng của nhà quản lý khi thiết lập bộ phận KTNB đó chính là tư vấn cho nhà quản lý để hoàn thiện mọi hoạt động của DN. Trên cơ sở đánh giá công tác QTRR của hệ thống Luan van 11 KSNB và của các quá trình quản lý, KTNB đề xuất và tư vấn các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính; tính hiệu lực của hệ thống KSNB và tính kinh tế của các hoạt động trong đơn vị. Với vai trò đưa ra tư vấn, KTNB sẽ cung cấp các dịch vụ tư vấn trợ giúp một cách riêng biệt cho tất cả các cấp trong một đơn vị việc giám sát chung về BCTC, KSNB, QLRR, đồng thời cũng có thể tư vấn sâu hơn về việc quản lý tài sản, các yêu cầu tuân thủ… đưa ra các khuyến nghị cần thiết để hoàn thiện các bộ phận có cơ hội phát triển hoặc có những khiếm khuyết cần khắc phục. Mặt khác, với kiến thức chuyên môn và kỹ năng của mình, KTNB có thể tham gia đào tạo cho các bộ phận và phòng, ban trong đơn vị về các mảng liên quan đến thủ tục KSNB và QLRR, BCTC, các quy định tuân thủ… góp phần tăng cường năng lực của nhân sự trong đơn vị và giúp cho các đơn vị thực hiện tốt chức năng của mình.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ Để thực hiện chức năng của mình là hỗ trợ nhà quản lý trong việc kiểm tra, khắc phục những rủi ro thì việc tổ chức và hoạt động KTNB phải đảm bảo những nguyên tắc sau đây: Thứ nhất, Tính độc lập của KTNB Theo nguyên tắc này, tổ chức và hoạt động của KTNB phải độc lập với đơn vị, bộ phận được kiểm toán, các KTVNB không bị những tác động hoặc mối quan hệ chi phối làm ảnh hưởng đến tính khách quan của hoạt động kiểm toán. Bộ phận KTNB chỉ chịu sự chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước người đứng đầu tổ chức. Trong khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, đơn vị phải đảm bảo rằng kiểm toán nội bộ không chịu bất cứ sự can thiệp nào khi thực hiện việc báo cáo và đánh giá. Thứ hai, Đạo đức kiểm toán Đạo đức kiểm toán là yếu tố nền tảng khi thiết lập chức năng KTNB.
Đó là những quy tắc liên quan đến hoạt động KTNB mà thể hiện là thái độ cư xử của KTV. KTVNB phải hiểu và thực hiện những quy tắc này như là một định hướng đúng đắn cho việc thực hiện công việc của họ. Cụ thể, các nguyên tắc đạo đức bao gồm: Tính trung thực: Nguyên tắc này đòi hỏi những ý kiến KTVNB đưa ra đáng tin cậy và trung thực. Luan van 12 Tính khách quan: Những đánh giá và kết luận của KTVNB không bị ảnh hưởng bởi lợi ích của họ và của những người khác.
Trình độ: KTVNB phải áp dụng những kiến thức về chuyên môn cũng như kinh nghiệm cần có để thực hiện công việc của họ.