Chương I – Lý luận chung về mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng Chương II - Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Chương III - Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam. Danh mục tài liệu tham khảo -5- CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1. Tập đoàn tài chính - ngân hàng 1. Lịch sử ra đời của tập đoàn tài chính - ngân hàng Vào cuối thế kỷ 19, sau một thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu vốn của các công ty tăng lên để mở rộng lĩnh vực hoạt động và địa bàn kinh doanh không những ở phạm vi trong nước mà còn trên thế giới.
Đến cuối thế kỷ 20 thì quá trình này diễn ra mạnh mẽ, hàng loạt các tập đoàn xuyên quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực ra đời và phát triển cho đến nay. Có thể kể đến những tập đoàn kinh tế lớn như Ford Motor, Pfizer, Siemens, Toyota Motor, IBM,. Sự hình thành các tập đoàn tài chính được diễn ra theo quy luật của thị trường và thường mang một số đặc điểm sau: Một là, tập đoàn gồm nhiều đơn vị thành viên thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tài chính., có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu. Phạm vi hoạt động rất rộng, thường vượt ra biên giới quốc gia, thậm chí trên khắp thế giới để trở thành những tập đoàn xuyên quốc gia, hướng tới mục tiêu toàn cầu hoá chiến lược kinh doanh nhằm đạt được những ưu thế trong cạnh tranh và nhằm thu lợi nhuận cao nhất.
Các tập đoàn kinh doanh đa phần được tổ chức theo mô hình “Công ty mẹ - Công ty con”. -6- Hai là, sự liên kết giữa các đơn vị thành viên (về tài chính, công nghệ, thị trường .) rất đa dạng, có thể là chặt chẽ hoặc không chặt chẽ nhưng trên cơ sở cùng có lợi của mỗi thành viên và của cả tập đoàn. Trong tập đoàn, công ty mẹ sở hữu lượng lớn cổ phần trong các công ty con, nắm quyền chi phối các công ty con về mặt tài chính cũng như về mặt chiến lược phát triển. Ba là, sở hữu trong tập đoàn tài chính - ngân hàng là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ), nhưng công ty mẹ luôn đóng vai trò chi phối, khống chế các công ty thành viên.
Các công ty con có thể hạch toán trực thuộc công ty mẹ hoặc hạch toán độc lập với tư cách pháp nhân riêng. Những công ty con có thể là những mắt xích liên quan đến nhau theo hình thức chuyên môn hoá trong một dây chuyền hoặc hoạt động trong những lĩnh vực độc lập hoàn toàn không liên quan gì với nhau. Một đặc điểm cuối của tập đoàn tài chính - ngân hàng là nó có thể kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành. Ngày nay thì các tập đoàn tài chính - ngân hàng phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là phổ biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn.
Bên cạnh các đơn vị sản xuất là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn. Trong bối cảnh mà toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn thì các tập đoàn tài chính - ngân hàng tăng cường thực thi sáp nhập, thôn tính, liên minh rộng rãi và địa phương hoá kinh doanh. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều tập đoàn tài chính - ngân hàng khổng lồ và nổi tiếng. Dưới đây là 10 tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn nhất theo số liệu thống kê năm 2003 về tổng tài sản.
Các tập đoàn này đều là những ngân hàng xuyên quốc gia với chi nhánh đặt tại nhiều quốc gia khác nhau.1: Mƣời tập đoàn ngân hàng xuyên quốc gia lớn nhất thế giới xếp hàng theo tổng tài sản (năm 2003) -7- Tổng tài sản (Triệu Số nước ngân hàng có Tên ngân hàng USD) chi nhánh Citigroup (Mỹ) 1.298 48 Mizuho Financial Group (Nhật) 1.081 15 Crédit Agricole SA (Pháp) 1.800 41 HSBC Bank Plc (Anh) 1.554 40 Mitsubisi Tokyo Financial (Nhật) 998.403 37 BNP Paribas SA (Pháp) 986. Khái niệm về tập đoàn tài chính –ngân hàng Khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng ở các nước và khu vực khác nhau cũng có những nét khác nhau, cụ thể: Ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU): Họ gọi tập đoàn tài chính - ngân hàng là những tập đoàn liên kết phải thoả mãn điều kiện sau: - Liên kết đó có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng hoặc chứng khoán và ít nhất một công ty thực hiện hoạt động về bảo hiểm. - Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm là hạt nhân của tập đoàn, một cách cụ thể hơn, nghĩa là tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài chính này trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%. Trong mỗi lĩnh vực tài chính (ngân hàng/chứng khoán hay bảo hiểm) tỷ lệ trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn 10% hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài chính phải lớn hơn 6 tỷ Euro.
[5] Ở Mỹ, người ta gọi những tập đoàn tài chính – ngân hàng là: “Financial holding company” nó đơn thuần chỉ là một tổ chức mà trong đó một công -8- ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính. Thực tế không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ con mà còn là công ty thực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Luật tài chính của Nhật quy định về tập đoàn tài chính - ngân hàng cũng tương đối giống với những quy định về tập đoàn ở Mỹ. Trong những cuộc hội thảo quốc tế cũng đã đi đến thống nhất, tập đoàn tài chính – ngân hàng được hiểu là một liên kết và phải đáp ứng hai yêu cầu sau: Một là, một liên kết bao gồm ít nhất hai trong số các lĩnh vực tài chính và ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán.
Hai là, liên kết đó có cốt lõi kinh doanh là tài chính như ngân hàng, chứng khoán và/hoặc là bảo hiểm. Đến nay chưa có định nghĩa hay khái niệm chính thức, thống nhất về tập đoàn tài chính - ngân hàng. Song trên cơ sở nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng có thể hiểu tập đoàn tài chính - ngân hàng là một tổ chức bao gồm hai hay nhiều định chế tài chính được liên kết lại với nhau. Đó là sự liên kết giữa nhiều chủ thể khác nhau hoạt động trên các lĩnh vực tài chính nhằm hướng tới một hay nhiều mục tiêu nhất định mà thường là tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và tăng cường khả năng cạnh tranh khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định.
Từ những đặc điểm và nguyên tắc cơ bản của tập đoàn tài chính - ngân hàng, các nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng: tập đoàn tài chính - ngân hàng trƣớc hết phải là một tập đoàn tài chính mà ở đó hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của tập đoàn tài chính - ngân hàng và nó chỉ hình thành ở những điều kiện nhất định của sự phát triển kinh tế. Đặc trưng cơ bản của tập đoàn tài chính - ngân hàng -9- a. Bộ máy tổ chức chặt chẽ Đặc trưng đầu tiên là các tập đoàn tài chính - ngân hàng sự kết hợp chặt chẽ của nhiều công ty trong một tổ chức thống nhất. Tập đoàn tài chính - ngân hàng được tổ chức theo ngành dọc, đứng đầu là chủ tịch tập đoàn, sau đó là giám đốc phụ trách các khối.
Phần lớn các tập đoàn tài chính - ngân hàng do các ngân hàng đứng đầu. Điều này phản ánh động lực ngày càng gia tăng của ngân hàng trong việc tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh khác do việc giảm sút lợi nhuận từ hoạt động cho vay và các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Những lợi thế về vốn cũng giải thích được lý do tại sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là rất phổ biến.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình tập đoàn tài chính - ngân hàng Ngân hàng đa năng Mô hình công ty mẹ- Mô hình công ty sở Loại hình con (Parent- hữu tài chính (univeral banking) subsidiary (financial Holding relationship Company) Cổ đông Cổ đông Cổ đông Mô hình Ng©n Ngân hàng Ngân hàng hµng Kinh Kinh Kinh Công Công Ngân Công ty Công doanh doanh doanh ty ty bảo hàng chứng ty bảo Ngân chứng bảo hiểm chứng hiểm khoán hàng khoán hiểm khoán Ban điều Ban điều hành trực tiếp Ban điều hành trực Ban điều hành thực hành điều hành các hoạt động tiếp điều hành hoạt hiện quyền nắm giữ cổ kinh doanh (kinh doanh động kinh doanh của phần trong tất cả các ngân hàng, kinh doanh bảo ngân hàng và gián công ty con hiểm, chứng khoán) tiếp điều hành công ty bảo hiểm, chứng - 10 - khoán thông qua quyền nắm giữ cổ phần tại các công ty này Mối quan Không có quy định riêng Các công ty con (ngân Các công ty con (ngân hệ về vốn về vốn giữa các công ty hàng, chứng khoán, hàng, chứng khoán, giữa các con bảo hiểm) nắm giữ vốn bảo hiểm) nắm giữ công ty chủ sở hữu vốn chủ sở hữu con Việc cách Rất khó để có thể ngăn Việc lan truyền rủi ro Dễ dàng ngăn ngừa sự ly rủi ro ngừa rủi ro lan truyền giữa có thể được ngăn lan truyền rủi ro giữa giữa các các công ty con ngừa ở một mức độ các công ty. Giữa các công ty nhất định.
Công ty công ty có sự độc lập con mẹ có một phần tác tương đối và không động nhất định lên chịu rủi ro trực tiếp các công ty con lẫn nhau Nguồn: Tài liệu hội thảo về việc xây dựng mô hình tài chính – ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 8/2006 Phần lớn các tập đoàn tài chính - ngân hàng do các ngân hàng đứng đầu.