CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận chung về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại (NHTM) 1. Khái niệm, bản chất của rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng ngày nay tạo ra phần lớn nguồn thu cho ngân hàng song cũng ẩn chứa rủi ro cao và có thể đem lại hậu quả nặng nề, có khi dẫn đến việc ngân hàng bị phá sản. Do đó, việc nhận thức về rủi ro để có chiến lược quản trị, biện pháp phòng ngừa và xử lý là điều kiện không thể thiếu giúp các NHTM thực thi được các mục tiêu hoạt động, chiến lược kinh doanh, tăng cườngsử dụng vốn và đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống. Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 70% - 90% thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra.
Hiện nay, có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng, chẳng hạn như: Theo Henie Van Greuning (1999) : “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”. Theo tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange (2002) định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi 10 ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”.
Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS, 2002) “Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Cụ thể hơn, Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng và khách hàng”. Tại Việt Nam, theo Khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21/01/2013 về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của các TCTD thì: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. “ Như vậy, điểm khác biệt giữa các quan điểm nêu trên là xác định rủi ro tín dụng tương ứng với khả năng xảy ra biến cố khách hàng không trả nợ đầy đủ, đúng hạn hay khả năng xảy ra những tổn thất do việc khách hàng không trả nợ đầy đủ, đúng hạn gây nên.
Trong phạm vi nghiên cứu này, để phù hợp với quy định của ngân hàng Nhà nước, cũng như cách tiếp cận phổ biến tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả lựa chọn cách hiểu về rủi ro tín dụng “là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng do khách hàng không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đầy đủ và đúng hạn gây ra những thất thoát tiềm ẩn về vốn và tài sản cho ngân hàng”. Bản chất của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng. Mặc dù rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng cho ngân hàng càng lớn nhưng khi thực hiện một hoạt động tài trợ vốn cụ thể cho khách hàng, ngân hàng cố gắng phân tích 11 các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn của khoản vay là cao nhất và ngân hàng chỉ quyết định cấp tín dụng khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, cộng thêm nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng nên trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là khách quan và không thể tránh khỏi.
Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội sử dụng vốn của khách hàng dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận. Nhiều quan điểm nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Tùy vào mục đích, yêu cầu nghiên cứu và các tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại khác nhau.
a) Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng được chia thành: Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Phân loại rủi ro tín dụng - Rủi ro giao dịch là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể. Nó là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do 12 những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm: + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng + Rủi ro bảo đảm: là rủi ro liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… + Rủi ro kiểm soát: là rủi ro liên quan đến công tác kiểm soát, theo dõi khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục là rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản cho vay trong danh mục cho vay của Ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quá tập trung cho vay vào một ngành, lĩnh vực. Rủi ro danh mục được chia thành: + Rủi ro cá biệt: xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế. + Rủi ro tập trung: do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. b)Căn cứ vào tính chất của rủi ro, có thể chia RRTD thành 2 loại: rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan - Rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, người vay bị chết hoặc mất tích dẫn đến không thu hồi được vốn vay mặc dù ngân hàng và cả người vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay.
Rủi ro khách quan rất khó lường trước, khó phòng trừ và khi xảy ra thì gây ra hậu quả nặng nề. - Rủi ro chủ quan: Là rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng như quy trình cấp tín dụng chưa chặt chẽ, chưa đánh giá đúng mức độ rủi ro của khoản vay, công tác kiểm tra sau cho vay chưa được chú trọng, cán bộ tín dụng làm sai quy trình,…Rủi ro chủ quan có thể phòng ngừa và hạn chế thông qua các biện pháp quản trị rủi ro phù hợp. 13 Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay,. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 1.
Nguyên nhân khách quan từ nền kinh tế Những nguyên nhân mang tính bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng… có thể ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp, nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản, điều này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ đối với các doanh nghiệp này. Các yếu tố như chu kỳ nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, thất nghiệp, lạm phát cũng ảnh hưởng đến ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái thì RRTD xảy ra nhiều hơn. Thông thường khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến sản xuất đình trệ, khả năng tài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn, tất yếu ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Yếu tố môi trường chính trị-pháp luật cũng có ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Cơ chế chính sách không hợp lý, thiếu đồng nhất sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp và môi trường đầu tư của các ngân hàng. Yếu tố văn hoá xã hội cũng là một vấn đề mà các doanh nghiệp cũng như ngân hàng cần phải quan tâm.
Trong điều kiện kinh tế như hiện nay nếu các ngân hàng không nắm được thói quen tiêu dùng của người dân cũng như những biến động của nó thì sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Biến động kinh tế, chính trị của các nước trên thế giới cũng có tác động không nhỏ tới kinh tế trong nước nói chung cũng như các ngân hàng nói riêng.