CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về hệ thống KSNB, sự hữu hiệu của KSNB cũng như nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của KSNB. Sau đây tác giả thực hiện đánh giá, phân tích một số nghiên cứu đã công bố. Qua đó xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu cho luận văn. Nghiên cứu ở nước ngoài Năm 2012, bài báo “Impacts of Internal Control Strategy on Efficiency Operation of Organization of Thai listed firms” của nhóm tác giả Mongkolsamai, Varipin, Ussahawanitchakit, Phapruke đăng trên tạp chí International Academy of Business and Economics.
Mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm tra tác động của chiến lược kiểm soát nội bộ đối với hoạt động hiệu quả của việc tổ chức các công ty niêm yết tại Thái Lan. Chiến lược kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Trong nghiên cứu này, 120 công ty niêm yết của Thái Lan là mẫu nghiên cứu. Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông có tác động tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Hơn nữa, tầm nhìn điều hành minh bạch, kiến thức của nhân viên, đa dạng giao dịch kinh doanh và người tham gia cũng cần có một tác động tích cực vào chiến lược kiểm soát nội bộ. Trong lĩnh vực bán lẻ, có bài nghiên cứu của tác giả Anthony Wood, Natalya Brathwaite “Internal Controls in the Retail Sector: A Case Study of a Leading Supermarketin Barbados” đăng trên tạp chí International Journal of Arts and Commerce tháng 12/2013. Mục đích nghiên cứu là kiểm tra tính đầy đủ, phát hiện và phòng ngừa gian lận của KSNB tại siêu thị hàng đầu của Barbadian có liên quan đến hoạt động tiền mặt của công ty. Bằng phương pháp thu thập thông tin thông qua Bảng câu hỏi, được thực hiện bởi kế toán c 7 trưởng vào tháng 3/2012.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các thủ tục KSNB được sử dụng trong kinh doanh có hiệu quả trong việc bảo vệ tiền mặt, việc phát hiện và ngăn chặn gian lận của nhân viên. Tuy nhiên trong tương lai, siêu thị cần tăng cường hệ thống KSNB với cơ chế và chương trình hỗ trợ nhân viên. Hơn nữa, cơ chế thưởng cho nhân viên có đạo đức của công ty để thúc đẩy tinh thần của người lao động và mang đến lòng trung thành lớn hơn. Tuy nhiên bài báo chỉ nghiên cứu trong hoạt động tiền mặt của công ty, chưa nghiên cứu được hết các hoạt động như hàng hóa, tài sản… Trong năm 2014, bài báo “Internal Control System Deficiency and Capital Project Mis management in the Nigerian Public Sector ” của nhóm tác giả Shakirat Adepeju Babatunde và Kabiru Isa Dandago (Procedia-Social and Behavioral Sciences).
Mục đích của nghiên cứu này là để phân tích những ảnh hưởng của thiếu hụt hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quản lý dự án vốn trong khu vực công của Nigeria. Nghiên cứu này cho thấy rằng thiếu hụt hệ thống hệ thống kiểm soát nội bộ có tác động tiêu cực đáng kể về quản lý dự án vốn trong khu vực công ở Nigeria. Mức độ thiếu kiểm soát nội bộ trong quản lý dự án vốn lớn, ở mức 0.52, điều đáng lo ngại. Ngoài ra, những phát hiện cho biết thiếu kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực phức tạp về tài chính.
Đây là bằng chứng cho các cơ quan tài trợ và chính phủ sử dụng trong quá trình ra quyết định tài chính. Nghiên cứu này phần lớn đã đạt được mục tiêu của nó. Nó đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ sự cần thiết của hiệu quả hệ thống KSNB đối với việc cải thiện quản lý dự án vốn trong khu vực công của Nigeria. Nghiên cứu này đã xác định một lĩnh vực để tìm giải pháp cho vấn đề đói nghèo, dựa trên các vấn đề cơ sở hạ tầng liên quan đến quản lý yếu kém trong ngành ngân hàng công ở Nigeria.
Nghiên cứu này đã góp phần nâng cao kiến thức, trong lĩnh vực cải cách lâu dài của bộ máy quản trị bằng cách áp dụng một hệ thống kiểm soát nội bộ để cải tiến cơ chế quản lý dự án vốn. c 8 Cũng trong năm này, bài nghiên cứu “A Proposed Reaserch Framework: Effectiveness of Internal Control System in State Commercial Banks in Sri Lanka” của tác giả Gamage và cộng sự được đăng trên tạp chí International Journal of Scientific Research and Innovative Technology, đã tiến hành nghiên cứu sự hữu hiệu của HTKSNB trong 2 NHTM nhà nước và 64 chi nhánh của 2 ngân hàng này tại Srilanka. Dựa trên mô hình nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả Sultana và Haque (2011) phát triển từ khuôn khổ về KSNB theo báo cáo COSO gồm: Các biến độc lập là các thành phần của KSNB : môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin truyền thông, các hoạt động kiểm soát, giám sát; Biến phụ thuộc: Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ; Biến điều tiết: Ủy quyền, mối quan hệ cộng tác, tác giả đã sử dụng mô hình nghiên cứu như trên nhưng bỏ qua các biến điều tiết. Kết quả của nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng, có sự tác động cùng chiều của các biến độc lập bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông, các hoạt động kiểm soát, giám sát đến biến phụ thuộc là sự hữu hiệu của hệ thống KSNB.
Từ kết quả nghiên cứu, sẽ hỗ trợ các ngân hàng thương mại nhà nước đưa ra các hoạt động quản lý hàng ngày cho việc bảo vệ tài sản, phòng ngừa và phát hiện gian lận, sai sót và bất thường. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ xác định lỗ hổng trong hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời tăng cường kiến thức về kiểm soát nội bộ và sự hữu hiệu của nó trong lĩnh vực ngân hàng. Nghiên cứu trong nước Với mục tiêu nghiên cứu là xác định các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại Chi Cục Thuế Quận 9, luận văn thạc sỹ “Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế tại Chi cục thuế Quận 9” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã kế thừa các nghiên cứu khảo sát trước, hỏi ý kiến chuyên gia để rút ra 5 yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ ảnh hưởng tới hoạt động thu thuế là c 9 môi trường kiểm soát, đánh giá độ rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát kiểm tra. Từ đó xây dựng bảng câu hỏi khảo sát để phỏng vấn cán bộ viên chức của Chi cục Thuế, xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện của Chi cục Thuế, xác định yếu tố nào của hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động thu thuế.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động thu thuế tại Chi cục Thuế Quận 9 trong thời gian tới. Bài báo “Khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ quan hành chính” của Thạc sĩ Lê Đoàn Minh Đức, Hà Hữu Phước, Nguyễn Cao Ngọc Thảo được đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I, số tháng 8/2016 (trang 79-81). Dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) về hệ thống kiểm soát nội bộ cho khu vực công, nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp khảo sát, tham khảo ý kiến chuyên gia và thống kê mô tả kết quả khảo sát nhằm nhận diện một cách có hệ thống về KSNB trong các cơ quan hành chính. Kết quả là các thành phần trong hệ thống KSNB cũng đang tồn tại trong cơ chế hoạt động tại các cơ quan hành chính nhưng chưa được hệ thống lại, cũng như chưa được ban hành bằng văn bản cụ thể.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu Archival Research (Malcolm Smith, 2003) để nghiên cứu văn bản pháp luật, quy chế tại các đơn vị, báo cáo được công khai của cơ quan hành chính năm 2014-2016, tiến hành gửi bảng khảo sát gồm 43 câu hỏi, được gửi đến 120 người làm tại các cơ hành chính trong tỉnh Bình Dương. Thông qua báo cáo, tài liệu được các cơ quan công khai và bảng tổng hợp dữ liệu, bài viết đưa ra một vài nhận định như sau: Về môi trường kiểm soát: Các cơ quan chú trọng về đạo đức nghề nghiệp và đều có ban hành văn bản quy định cụ thể về đạo đức tương đối chi tiết và đầy đủ, được công khai cho nhân viên và người dân; Số lượng nhân sự c 10 tương đối đủ và đảm bảo hoàn thành tốt công việc, chức năng nhiệm vụ từng vị trí được quy định cụ thể bằng văn bản. Tuy nhiên, còn một số cơ quan chưa đủ nhân sự theo yêu cầu công việc nên dẫn đến áp lực cao trong công việc cho nhân viên; Cơ quan xây dựng và cập nhật sơ đồ tổ chức, trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận được quy định rõ ràng bằng văn bản, phân công nhiệm vụ có xem xét đến nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa các chức năng phê duyệt, ghi sổ và giữ tài sản. Tuy nhiên, nguyên tắc bất kiêm nhiệm cũng chưa được chú trọng ở nhiều nơi.
Công việc hàng ngày hầu hết được các cơ quan xây dựng quy trình cụ thể. Nhân viên có sự tự kiểm tra, đối chiếu và giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện công việc. Bên cạnh đó, cũng còn một số nơi chưa có quy định sự kiểm tra đối chiếu, giám sát lẫn nhau; Kế hoạch dự toán luôn được xây dựng và thông qua đơn vị cấp trên. Các quy chế, nội quy được xây dựng chặt chẽ.
Về đánh giá rủi ro: Các cơ quan có tiến hành xem xét các rủi ro phát sinh trong hoạt động. Bên cạnh đó, cũng còn một vài cơ quan chưa có đánh giá rủi ro. Hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro trong các nghiệp vụ chưa được chú trọng thiết lập. Về hoạt động kiểm soát: Các quy định nội bộ được ban hành đầy đủ, đồng bộ và thường xuyên được rà soát, sửa đổi phù hợp.
Các đơn vị có phân định chức năng nhiệm vụ và phân cấp ủy quyền rõ ràng; Đơn vị cấp trên có quy định cụ thể về công tác khóa sổ kế toán cuối năm là lập báo cáo quyết toán; Các đơn vị đều thực hiện công tác đối chiếu số liệu kế toán, đối chiếu xác nhận các khoản công nợ, xác định số dư tài khoản, kiểm kê hàng năm.