chương 1, nhóm tác giả muốn giới thiệu cho người đọc cấu trúc của bài nghiên cứu gồm 5 chương, giải thích sơ qua về nội dung, mục đích, lí do vì sao chọn đề tài này và giới thiệu sơ qua về cách thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Để hiểu rõ hơn về nghiên cứu này thì chương 2, nhóm tác đã đưa ra cơ sở lý luận liên quan đến giá cổ phiếu, TTCK và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHIẾU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU Ở chương 2, nhóm tác giả đưa ra các cơ sở lý luận về giá cổ phiếu và các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu. Đầu tiên, nhóm tác giả đưa ra cơ sở lý thuyết, lý luận về giá cổ phiếu, TTCK và các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Tiếp theo là lược khảo các bài nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Cuối cùng nêu các khoảng trống mà các bài nghiên trước chưa nghiên cứu để từ đó có cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên của nhóm tác giả.1 Cơ sở lý luận về giá cổ phiếu Giả thuyết thị trường hiệu quả của Fama (1970) cho rằng thị trường kinh tế nói chung và TTCK nói riêng là một thị trường hoàn hảo, từ đó giá của cổ phiếu sẽ phản ánh hết thông tin, giá trị doanh nghiệp. Vì vậy, nhà đầu tư sẽ dựa trên thông tin có sẵn để dự báo sự biến động giá tiếp theo. Tuy nhiên, hầu hết TTCK ở các quốc gia là không hoàn hảo, giá chứng khoán còn chịu tác động của các nhân tố nội tại doanh nghiệp, nhân tố vĩ mô và nhiều yếu tố khác, dẫn đến nó không thể hiện hết thông tin hiện có của doanh nghiệp.
Với cơ sở tiền đề là giả thuyết thị trường hiệu quả, Maurice (1953) cho ra kết quả công trình nghiên cứu “Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên”. Theo Maurice, giá cổ phiếu tăng giảm theo cách không dự đoán được, từ đó các số liệu từ quá khứ hay các phương pháp dự đoán không có hiệu qủa đối với dài hạn. Lý thuyết của Miller & ctg (1961) trong thị trường hoàn hảo không tồn tại chi phí giao dịch, thuế, các nhà quản lý kinh tế và các nhà đầu tư cá nhân có lượng thông tin doanh nghiệp giống nhau, chính sách chia cổ tức của doanh nghiệp không có tương quan đến giá cổ phiếu. Ngược lại, Gordon (1963) cho rằng giả định thị trường của mô hình M&M không có thật chính sách cổ tức có mối quan hệ với giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
Từ đó, Gordon giới thiệu giả thuyết chính sách cổ tức tiền mặt cao (Bird-in-the-hand). Theo giả thuyết này, với tâm lý ngại rủi ro của các nhà đầu tư, khi sở hữu cổ phiếu, có lượng cổ tức được chia thường kì là một khoảng thu nhập ổn định, sẽ giảm thiểu rủi ro mà chênh lệch giá 7 bán lại cổ phiếu trong tương lai mang lại, dẫn đến cổ đông muốn sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp nhiều hơn, giá trị công ty sẽ tăng.2 Khái quát chung về TTCK 2.1 Khái niệm TTCK TTCK là nơi huy động vốn đầu tư quan trọng và hiệu quả đối với một quốc gia. TTCK huy động vốn trong và ngoài nước tại Việt Nam hoạt động từ tháng 7/2000. Trải qua 22 năm, TTCK Việt Nam đang bắt đầu giai đoạn phát triển, bất kỳ sự thay đổi tích cực hay tiêu cực trên thị trường ngoài tác động bởi yếu tố tâm lý, còn chịu tác động từ chính sách của Chính phủ và các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế quốc gia.2 Chức năng của TTCK Là nơi thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế: Bằng cách mua chứng khoán được niêm yết phát hành và đầu tư số tiền nhàn rỗi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, tăng giá trị doanh nghiệp, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Đồng thời thông qua thị trường này, các nguồn vốn được huy động giúp Chính phủ và chính quyền ở các địa phương phục vụ các nhu cầu chung của xã hội đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng. Cung cấp môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư: Với nhiều sự lựa chọn, TTCK cung cấp cho nhà đầu tư một thị trường đầu tư lành mạnh, an toàn. Với sự đa dạng của thị trường chứng khoán (về ngành nghề, tính chất, thời hạn và độ rủi ro) các nhà đầu tư có thể tìm kiếm loại chứng khoán phù hợp với nhu cầu của mình. Tính thanh khoản cao cho chứng khoán: Nhờ có thị trường chứng khoán là nơi hoạt động được pháp luật công nhận, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán thành các loại tài sản khác như tiền mặt, hoặc chuyển từ chứng khoán này sang chứng khoán khác một cách dễ dàng.
Tính toán là một trong những điểm đặc biệt của chứng khoán có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. TTCK hoạt động càng sôi nổi, hiệu quả thì tính thanh khoản của chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao. Giúp định giá được khả năng phát triển của doanh nghiệp: Thông qua sự biến động giá của chứng khoán, các hoạt động của doanh nghiệp sẽ phản ánh một một cách bao quát và chính xác, việc đánh giá hoạt động của doanh nghiệp dễ dàng hơn. Đây là cơ hội 8 tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty từ các ngành nghề khác nhau, hiệu quả sử dụng nguồn vốn tăng.
Là thị trường phù hợp để Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ số trên TTCK phản ứng với các xu hướng kinh tế nhanh chóng và chính xác. Giá cổ phiếu tăng lên báo hiệu nền kinh tế tăng trưởng, đầu tư đang mở rộng hay giá chứng khoán giảm đồng nghĩa với nền kinh tế có sự giảm sút. Chính vì vậy, Chính phủ ban hành các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm giữ lạm phát ở mức kiểm soát được. TTCK giúp Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.
Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành một số chính sách, luật lệ để kiểm soát TTCK giúp nền kinh tế phát triển cân bằng.3 Cổ phiếu và giá cổ phiếu 2.1 Khái niệm về cổ phiếu Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận rằng người sở hữu có lợi ích hợp pháp đối với một phần vốn tự có của tổ chức phát hành. Cổ đông được gọi là cổ đông của công ty cổ phần và là chủ sở hữu một phần của công ty. Có hai loại cổ phiếu chính: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. - Cổ phiếu phổ thông, là loại chứng khoán phổ biến được nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Nhà đầu tư nắm giữ cổ phần thường là một trong những chủ sở hữu của công ty nên họ là người trực tiếp kế thừa kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đồng thời cũng là người chịu mọi rủi ro mà công ty gặp phải. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông nói chung tỷ lệ thuận với phần vốn góp của họ và công ty. Nắm giữ cổ phiếu này, nhà đầu tư thu được lợi nhuận (gọi tắt là cổ tức) theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm của công ty, được tham gia đại hội đồng cổ đông, biểu quyết các vấn đề lớn của công ty, được bầu làm thành viên hội đồng quản trị công ty, và là người được bầu cuối cùng khi công ty giải thể. Nhà đầu tư có nghĩa vụ không được rút vốn góp, trừ các khoản thu nhập và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn cổ phần của mình.
- Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có nhiều đặc quyền hơn so với cổ phiếu phổ thông. Cổ đông ưu đãi được chia cổ tức hàng năm với tỷ lệ cố định không phụ thuộc vào 9 hoạt động và sản xuất của công ty. Ngoài ra, cổ đông ưu đãi cũng có thể ưu tiên chia cổ tức. Khi công ty bị giải thể, tài sản còn lại của công ty có thể bị phá sản trước cổ đông phổ thông, nhưng cổ đông ưu đãi không có quyền biểu quyết mọi vấn đề theo sự ủy quyền của đại hội đồng cổ đông và tham gia vào việc quyết định chiến lược của công ty.
v Một số vấn đề liên quan đến cổ phiếu: Cổ tức: Là số tiền được chia theo giai đoạn từ lợi nhuận của công ty để trả cho mỗi cổ phiếu mà cổ đông đang nắm giữ. Tách cổ phiếu: Là quyết định của công ty chia một cổ phiếu đang lưu hành thành nhiều cổ phiếu hơn. Doanh nghiệp thực hiện chia tách cổ phiếu khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng quá cao, khiến giao dịch mua bán khó thực hiện. Việc chia tách cổ phiếu sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành từ đó giảm mệnh giá cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ chia tách, giúp giao dịch dễ dàng hơn.
Gộp cổ phiếu: Trái ngược với việc tách cổ phiếu, hợp nhất cổ phiếu sẽ làm giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành, khi đó mệnh giá và thị giá của cổ phiếu sẽ tăng tương ứng với tỷ lệ gộp cổ phiếu. Việc tăng hoặc giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm đó không làm thay đổi vốn điều lệ, vốn cổ phần hoặc giá trị thị trường chung. Tùy thuộc vào mục đích của công ty và điều kiện thị trường, công ty có thể tách hoặc hợp nhất cổ phần.2 Đặc điểm của cổ phiếu Cổ phiếu có tính thanh khoản cao, dễ dàng được trao đổi thành tiền mặt. Tính thanh khoản của một cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Cổ phiếu là chứng khoán vốn và do đó không có ngày đáo hạn và không có khả năng thu hồi vốn.
- Cổ tức phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần niêm yết và không có kế hoạch trước. Nếu công ty phát hành có khả năng sinh lời cao, hiệu quả và trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút các nhà đầu tư dẫn đến giá tăng. Ngược lại, nếu một công ty hoạt động không tốt không chia cổ tức hoặc trả cổ tức thấp thì cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và thanh khoản thấp. 10 - Quan hệ cung cầu của cổ phiếu trên TTCK: TTCK cũng tồn tại quy luật cung cầu.
Giá của một cổ phiếu trên thị trường ngoài được xác định bởi chất lượng của công ty, mà còn do nhu cầu của nhà đầu tư. Một cổ phiếu tốt, nhưng thị trường thừa cung, thì cổ phiếu khó tăng trưởng.