Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Tổng quan về phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia. - Xuất khẩu: là những hàng hóa được sản xuất ra ở trong nước được bán ra nước ngoài (lượng tiền thu được do bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài – làm tăng GDP).
- Nhập khẩu: là những hàng được sản xuất ra ở nước ngoài, nhưng được mua để phục vụ nhu cầu nội địa (lượng tiền trả cho nước ngoài do mua hàng hóa và dịch vụ – làm giảm GDP). - Chi tiêu Chính phủ : là các khoản chi tiêu, đầu tư, thanh toán định kỳ của chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng (khi chi tiêu Chính phủ tăng sẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng GDP tăng). - Chi tiêu hộ gia đình : các khoản chi cho các nhu cầu ăn uống và ngoài ăn uống trong một thời gian nhất định ( khi chi tiêu hộ gia đình tăng sẽ dẫn đến GDP tăng).2 Nguồn gốc của mô hình lý thuyết Có 3 phương pháp tính tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 2.1 Phương pháp tính theo luồng sản phẩm Hàng năm dân cư của mỗi nước tiêu thụ rất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng như: gạo, thịt, cam, táo, xoài…;chăm sóc y tế, thương mại và du lịch,… 6 những hàng hóa và dịch vụ do người tiêu dùng mua và sử dụng. Toàn bộ các khoản chi tiêu tính bằng tiền để mua các sản phẩm cuối cùng, sẽ có được toàn bộ GDP của nền kinh tế hàng hóa đơn giản này.
Như vậy, trong nền kinh tế giản đơn, ta có thể dễ dàng tính được thu nhập hay sản phẩm quốc dân bao gồm tổng số hàng hóa cuối cùng cộng với dịch vụ. Vậy, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của luồng sản phẩm cuối cùng mà một quốc gia tạo ra. GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong thời gian một năm. Được thể hiện như sau: GDP = C + I + X – Z – Te = C + I + G + NX – Te Trong đó: GDP: Tổng sản phẩm quốc nội C: Tiêu dùng của hộ gia đình I: Đầu tư của các nhà sản xuất X: Xuất khẩu Z: Nhập khẩu Te: Thuế gián thu NX: Xuất khẩu ròng G: Chi tiêu của Chính phủ 2.2 Phương pháp tính theo tiền thu nhập hoặc chi phí Đây là phương pháp thứ hai tương tự để tính GDP trong một nền kinh tế giản đơn.
Các ngành kinh doanh thanh toán tiền công, tiền lãi, tiền thuê nhà và lợi nhuận. Đó là các khoản thu nhập từ các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động, vốn và kỹ thuật dùng để sản xuất ra luồng sản phẩm. GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất. GDP cũng bao gồm nhiều thuế gián thu và khấu hao mà chúng không phải là thu nhập của các yếu tố.
Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất bao gồm: 7 - Tiền lương và các khoản tiền thưởng mà người lao động được hưởng: (W) - Thu nhập của người cho vay: Tiền lãi (i) - Thu nhập của chủ đất, chủ nhà và chủ các tài sản cho thuê khác: Tiền thuê (R) - Thu nhập của các doanh nghiệp: Lợi nhuận (r) - Thuế gián thu (Te) - Khấu hao (De) Như vậy, Tổng sản phẩm quốc nội cũng có nghĩa là tổng tiền thu nhập về các yếu tố sản xuất (lương, tiền lãi cho vay, thuê nhà và lợi nhuận), dùng làm chi phí sản xuất ra những sản phẩm cuối cùng của xã hội. GDP theo tiền thu nhập được thể hiện như sau: GDP = W + i + R + r + Te + De Tóm lại, việc tính toán bằng nhiều phương pháp đều cho những kết quả giống nhau. Tuy nhiên trên thực tế có những chênh lệch nhất định do những sai sót từ những con số, thống kê hoặc tính toán.3 Mô hình nghiên cứu 1. Xuất khẩu + Cơ sở hạ tầng : Thiết bị, Công nghệ + Nguồn lao động : Trình độ, Giới tính + Vốn : Vốn chủ sở hữu, Vốn vay 2.
Nhập khẩu + Nhu cầu tiêu dùng : Giá, Thu nhập cá nhân + Chính sách Nhà nước 3. Chi tiêu Chính Phủ + Tiêu dùng của Chính phủ + Đầu tư của Chính phủ + Các hành động di chuyển tiền 4. Chi tiêu hộ gia đình 8 + Nhóm yếu tố thuộc về hộ gia đình: tuổi, giới tính… + Nhóm yếu tố xã hội: thành thị/nông thôn,… 5.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: + Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài + Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước 6. Chỉ số phát triển con người HDI: + Sức khỏe(LEI) + Tri thức (EI) + Thu nhập: mức sống đo bằng GNI bình quân đầu người 2.3 Lý thuyết đưa các biến phụ thuộc vào mô hình Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của GDP gồm các nhân tố chủ chốt sau: - Thứ nhất, nguồn nhân lực.
Một số quan điểm cho rằng con người là cốt lõi của tăng trưởng kinh tế. Con người có sức khỏe, trí tuệ, tay nghề cao, có nhiệt huyết, động lực, nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế. - Thứ hai, vốn đầu tư. Để sản xuất hàng hóa, để mua máy móc thiết bị, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề cho công nhân viên, chúng ta cần có vốn đầu tư.
Harrod Domar đã nêu lên mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế với công thức ICOR, đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP. - Thứ ba, tri thức công nghệ. Khoa học kỹ thuật luôn là chìa khóa thần kỳ mở cánh cổng bước vào tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Khoa học kỹ thuật giúp tăng năng suất và hiệu suất sản xuất, có thể khiến sản lượng tăng đột biến.
- Thứ tư, đó là xuất khẩu ròng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính. Chúng ta xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ trong nước và nhập khẩu những hàng hóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí. Khoản chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu là xuất khẩu ròng.
Xuất khẩu ròng 9 tác động trực tiếp lên tăng trưởng kinh tế, vì nó là một phần của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra. Xuất khẩu ròng tăng sẽ thúc đẩy sản xuất sản phẩm nhiều hơn. - Thứ năm, đó là chi tiêu Chính phủ. Chi tiêu Chính phủ thường được sử dụng làm công cụ chính sách chủ yếu để điều tiết tổng cầu của nền kinh tế.
Sự gia tăng chi tiêu của chính phủ có thể đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân. - Thứ sáu, đó là chi tiêu hộ gia đình. Sự gia tăng GDP bình quân đầu người có thể dẫn đến sự thay đổi trong mô hình tiêu dùng hộ gia đình do ước tính mức sống cao hơn hoặc đạt nhanh hơn đến mức quốc gia có thu nhập trung bình cao. - Thứ bảy, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.
Mặc dù xuất hiện muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác đến cả vài chục năm nhưng FDI đã nhanh chóng thiết lập vị trí của mình trong quan hệ quốc tế. Dần trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể thiếu của mọi quốc gia trên thế giới. - Thứ tám, chỉ số phát triển con người HDI. chỉ số phát triển con người được thực hiện bởi Liên Hợp quốc như một thước đo để đánh giá trình độ phát triển kinh tế và xã hội một quốc gia.
HDI đạt tối đa bằng 1 thể hiện trình độ phát triển con người cao nhất; HDI tối thiểu bằng 0 thể hiện xã hội không có sự phát triển mang tính nhân văn. Tuy nhiên, trong tất cả các yếu tố trên, được quan tâm nhắc đến nhiều nhất, vẫn là Chi tiêu Chính phủ, xuất khẩu ròng, chi tiêu hộ gia đình, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, và chỉ số phát triển con người HDI. Vì các yếu tố trên chịu ảnh hưởng tác động nhiều nhất của các chính sách kinh tế, và cũng do các nhân tố trên dễ thống kê với số liệu chính xác hơn nên thường xảy ra bàn cãi xoay quanh các chính sách về các nhân tố này. Do tính thời sự của các nhân tố này, chúng tôi quyết định đưa chi tiêu Chính phủ, xuất khẩu ròng, chi tiêu hộ gia đình, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, và chỉ số phát triển con người HDI vào mô hình, nghiên cứu mối quan hệ của chúng với tăng trưởng kinh tế của nhóm.
Qua đó sẽ thấy được mối tương quan, độ ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố này tăng trưởng kinh tế. 10 CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Xây dựng mô hình kinh tế lượng Mô hình gồm 4 biến: - Biến phụ thuộc: Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Đơn vị tính: tỷ USD ) - Biến độc lập: + Nhập khẩu NK (Đơn vị tính: tỷ USD) + Xuất khẩu XK (Đơn vị tính: tỷ USD) + Chi tiêu của hộ gia đình CT (Đơn vị tính: tỷ USD) + Chi tiêu của chính phủ G (Đơn vị tính: tỷ USD) + Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Đơn vị tính: %) - Biến giả: + D2 (nước có chỉ số phát triển con người HDI cao, các nước có chỉ số phát triển con người HDI khác). Trong đó: nước có chỉ số phát triển con người HDI cao cho = 1; các nước có chỉ số phát triển con người HDI khác cho = 0. Trong đó: nước có chỉ số phát triển con người HDI trung bình cho = 1; các nước có chỉ số phát triển con người HDI khác cho = 0.
Dự đoán kỳ vọng giữa các biến - β2 dương: Khi Chi tiêu hộ gia đình tăng thì sẽ dẫn đến tổng sản phẩm quốc nội GDP tăng.