chương 1 đưa ra bố cục năm chương của khóa luận và giới thiệu những nội dung quan trọng sẽ được thảo luận theo mỗi chương. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 là phần đề cập những lý thuyết quan trọng liên quan chặt chẽ đến vấn đề nghiên cứu. Chương này cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài và ở Việt Nam, xác định khoảng trống ở kết quả công bố trước đó, cũng như xác định các yếu tố có tác động đến hiệu quả hoạt động làm cơ sở để hình thành mô hình nghiên cứu.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ở mỗi quốc gia sẽ có cách định nghĩa khác nhau về Ngân hàng thương mại (NHTM). NHTM là khái niệm được trình bày trong nhiều nghiên cứu khác nhau.
Mặc dù vậy, chưa có định nghĩa thống nhất về NHTM, nhưng nhìn chung NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó NHTM còn cung cấp các dịch vụ tài chính khác nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch vụ xã hội của khách hàng. Và một số định nghĩa phổ biến về NHTM như sau: Theo Rose & Hudgins (2008), ngân hàng có thể được định nghĩa là “loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010 số 47/2010/QH12 tại Việt Nam (sửa đổi và bổ sung năm 2017) định nghĩa NHTM là: “loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
9 Theo Bùi Diệu Anh và cộng sự (2013), NHTM là loại hình thực hiện đa dạng các hoạt động ngân hàng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo Lê Thị Tuyết Hoa (2017), NHTM là tổ chức trung gian tài chính thực hiện hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán qua tài khoản và cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ lĩnh vực tài chính tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, dựa vào một số khái niệm nêu trên, ta có thể thấy NHTM là một loại hình trung gian tài chính, là một doanh nghiệp đặc biệt bởi đối tượng tác nghiệp chính ở đây là tiền tệ. Cùng với đó, NHTM còn được phép thực hiện đa dạng các hoạt động như huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác để phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng trong sự phát triển vượt bậc ngày nay.
Thông qua hệ thống NHTM, nhà nước đưa ra các quyết định hiệu quả hơn đối với chính sách tiền tệ, giúp vận hành dễ dàng và linh hoạt bộ máy tài chính, hệ sinh thái kinh tế có tổ chức hơn. Tóm lại, sự phát triển lớn về số lượng, mạng lưới hoạt động cùng với việc “thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” đã làm cho NHTM trở thành trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế.2 Chức năng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tài chính: Vai trò của NHTM trong nền kinh tế là huy động vốn từ chủ thể thừa để cấp vốn cho các chủ thể thiếu. Bên cạnh đó, NHTM còn đóng vai trò là cánh tay nối dài của NHNN trong việc thực hiện điều hành chính sách tiền tệ. Chức năng thủ quỹ: NHTM thông qua hoạt động nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tập trung được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh 10 tế.
NHTM khi nhận tiền gửi sẽ có nghĩa vụ nắm giữ tiền và thực hiện các mệnh lệnh của chủ tài khoản tiền gửi. Nhờ vào chức năng thủ quỹ mà NHTM có cơ sở để thực hiện chức năng thanh toán và tín dụng. Chức năng trung gian thanh toán: Đối với thời đại 4.0 hiện nay chức năng thanh toán online chiếm thị phần lớn. Các NHTM hiện nay đã có nhiều chương trình khuyến mãi cũng như liên kết với các ứng dụng thanh toán trực tuyến để có thể mở rộng thị phần của mình.
Bên cạnh đó các NHTM có các chính sách miễn phí các phí thanh toán online nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng của mình. Đối với khách hàng việc thanh toán qua ngân hàng hoặc các ứng dụng thanh toán, chuyển khoản của ngân hàng giúp khách hàng cảm thấy an toàn cũng như trải nghiệm được các tiện ích trên ứng dụng một cách tiện lợi và nhanh chóng. Chức năng cấp tín dụng: Thông qua cấp tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng thực hiện chức năng tín dụng - cung cấp vốn cho các chủ thể thiếu sử dụng trong khoảng thời gian nhất định, áp dụng quy tắc hoàn trả gốc và lãi. Nhờ có chức năng này, vốn được cấp cho các cá nhân, tổ chức nhằm thỏa mãn chi tiêu, mua sắm, sản xuất kinh doanh.
Từ đó, các NHTM có đóng góp không nhỏ cho thúc đẩy hiệu quả sử dụng vốn, góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền: NHTM thông qua cấp tín dụng bằng chuyển khoản đã tạo ra được tiền bút tệ trong hệ thống NH tham gia vào lưu thông. Điều này giúp NHNN có thể can thiệp vào khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM nhằm điều hành chính sách kinh tế. Với các chức năng trên, NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế và góp phần đáng kể trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh - xã hội.2 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Đối với lĩnh vực có tính đặc thù như ngành Ngân hàng thì khái niệm về tính hiệu quả là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng vẫn chưa được thống nhất.
Khái niệm này sẽ được định nghĩa và hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc vào cách nhìn nhận và mục đích của từng người nghiên cứu. Hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ cạnh tranh. Nó có thể đánh giá được các giá trị lợi nhuận tối đa cho các ngân hàng thương mại. Đồng thời nó phản ánh mối liên hệ giữa kết quả thu được và toàn bộ các chi phí, rủi ro để có được kết quả đó.
Nhìn chung đó chính là doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng. Theo Nguyễn Ngọc Huyền (2013), "hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định". Hiệu quả kinh doanh gắn liền với tất cả các hiệu quả kinh doanh trong một thời kỳ cụ thể nào đó. Theo Đoàn Việt Hùng (2019) khái niệm hiệu quả hoạt động trích dẫn từ ngân hàng Trung ương Châu Âu ECB (European Central Bank) cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Theo Nguyễn Văn Chiến và Phạm Thị Minh Thùy (2021), hiệu quả hoạt động của NHTM gắn liền với các hoạt động của ngân hàng, nhằm tạo ra lợi nhuận. Như vậy, theo nhiều nghiên cứu trước, hiệu quả hoạt động của NHTM có thể hiểu là khả năng tạo ra lợi nhuận thông qua các hoạt động của ngân hàng như huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Nói cách khác, khả năng sinh lời chính là một thước đo hiệu quả của doanh nghiệp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khả năng sinh lời là một trong những nội dung quan trọng được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng.
12 Với đặc thù hoạt động cũng như vai trò quan trọng trong nền kinh tế, các ngân hàng luôn chú trọng đến khả năng sinh lời bởi điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chính ngân hàng mà còn tác động đến sự bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hiệu quả kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động của một ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và tồn tại lâu dài của một ngân hàng. Hầu hết các học giả sử dụng cùng các chỉ số thường thấy để đo lường lợi nhuận của ngân hàng dựa trên các tỷ lệ phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và yếu tố tạo ra lợi nhuận gồm tài sản. Khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại thường được đo lường thông qua 2 chỉ tiêu cơ bản là khả năng sinh lời trên tài sản (ROA) và khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, dựa trên đặc điểm hoạt động, ngân hàng còn có thêm 2 chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM).
Chính vì vậy, ở các nghiên cứu trước đã dùng các chỉ số như ROA, ROE,. để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Cụ thể, chỉ tiêu quan trọng được sử dụng trong các nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng là lợi nhuận trên tài sản (ROA). Altarawneh và Shafie (2018); Phan et al (2020); Đặng Thị Minh Nguyệt và cộng sự (2021) đều sử dụng chỉ số ROA trong nghiên cứu về lợi nhuận ngân hàng để đưa ra quan điểm rằng ROA có thể là một chỉ số thích hợp để đo lường hiệu quả hoạt động của một NHTM.
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Trong đó, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA, theo Adefeya et al (2016), là một thước đo phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. ROE là lợi nhuận của các cổ đông có được trên số vốn chủ sở hữu đã đem đầu tư vào ngân hàng (Adefeya et al, 2016).