Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ổn định tài chính của Ngân hàng thương mại. Chương 3: Phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao ổn định tài chính của Ngân hàng thương mại Việt Nam 1.7 Đón óp ủa nghiên cứu Trên phương diện học thuật: luận văn là tài liệu hữu ích giúp hệ thống hóa những lý luận chung về NHTM và ổn định tài chính của NHTM tại Việt Nam và trên thế giới.
Tìm hiểu, phân tích các chỉ số đo lường ổn định tài chính của ngân hàng cũng như các yếu tố tác động đến nó. Trên phương diện thực tiễn: Luận văn được thực hiện với mục tiêu xác định các yếu tố tác động đến ổn định tài chính của NHTM Việt Nam, nước ta hiện nay có 5 khá ít nghiên cứu về đề tài này, phần lớn các luận văn nghiên cứu về nợ xấu hay rủi ro thanh khoản, mà ít có nghiên cứu về việc tài chính của nó có ổn định hay không. Luận văn kỳ vọng có thể giúp các NHTM có thêm nguồn tham khảo, các nhà nghiên cứu có thể phát triển thêm từ những hạn chế của bài viết, từ đó hình thành được những tài liệu về ổn định tài chính ngân hàng hoàn thiện hơn. Tiếp theo luận văn cũng chỉ ra tầm quan trọng của các yếu tố thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, tăng trưởng cho vay, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay khách hàng trên tiền gửi khách hàng, tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát với mức độ ổn định tài chính của NHTM Việt Nam như thế nào Và sau cùng, luận văn làm rõ tác động của hoạt động cho vay cụ thể là tăng trưởng cho vay và tỷ lệ cho vay khách hàng trên tiền gửi khách hàng có thật sự là tốt cho NHTM mà không có rủi ro hay không.
Đây là đóng góp quan trọng, vì nó giúp các NHTM xây dựng cho mình chiến lược cho vay hợp lý. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về ổn định tài chính của N n n t ƣơn mại Nhiều nghiên cứu đã cố gắng giải quyết ổn định tài chính của các ngân hàng từ những quan điểm khác nhau, tuy nhiên chưa có khái niệm nào được thống nhất. Vậy ổn định tài chính ngân hàng thương mại được hiểu như thế nào? 2.1 Khái niệm về ổn định tài chính của n n n t ƣơn mại Ổn định tài chính luôn là mối quan tâm hàng đầu của các Quốc gia, ổn định tài chính là điều kiện cần thiết để các quốc gia ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngân hàng là một bộ phận của thị trường tài chính, nó được phân biệt với các chủ thể khác trong nền kinh tế bởi việc được cấp phép và thực hiện các hoạt động của ngân hàng, ngân hàng cũng là ngành phải tuân thủ theo nhiều quy định nhất.
Hơn nữa, Ngân hàng là một ngành nghề kinh doanh đặc biệt và có mức độ nhạy cảm cao hơn so với các ngành nghề khác. Hoạt động của lĩnh vực ngân hàng chịu tác động cả từ những vấn đề nội tại ngân hàng, và những vấn đề mang tính vĩ mô. Do vậy, ổn định tài chính, ổn định hệ thống ngân hàng là mục tiêu quan trọng của mỗi ngân hàng và cả quốc gia. Xác định ổn định tài chính ngân hàng từ ổn định tài chính, luận văn tham khảo các ý kiến như sau: Theo ngân hàng trung ương Châu Âu, ổn định tài chính là trạng thái mà hệ thống tài chính gồm các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính có khả năng chống đỡ được các cú sốc và những rủi ro do sự mất cân đối tài chính đưa ra, từ đó làm giảm bớt khả năng sụp đổ của các trung gian tài chính vốn có tác động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư.
Một sự am hiểu về ổn định tài chính cần dựa trên những khung khái niệm (Houben và cộng sự, 2004). Khái niệm về sự ổn định tài chính còn chưa rõ ràng, 7 chưa có định nghĩa chung nào được công nhận. Tuy nhiên một số nghiên cứu đã cố gắng để định nghĩa sự ổn định tài chính. Houben và cộng sự (2004) đã xét đến sự ổn định tài chính như là sự thay đổi liên tục qua thời gian và phù hợp với sự kết hợp đa dạng của nó với các yếu tố tạo nên nó, giúp hệ thống kinh tế phân bổ nguồn lực, quản lý rủi ro và có khả năng thích ứng với những cú sốc.
Davis (2003) đã xác định ba loại bất ổn tài chính. Thứ nhất là sự thất bại của ngân hàng, thứ hai là giá cả thị trường bất ổn, và thứ ba là sự sụp đổ kéo theo của thanh khoản thị trường. Miskin (1994) cho rằng, bất ổn tài chính xảy ra khi những cú sốc với những dòng thông tin cản trở làm cho hệ thống tài chính có thể không dẫn truyền vốn tài trợ cho hoạt động đầu tư sản xuất trong nền kinh tế. Thị trường tài chính ổn định sẽ hỗ trợ các hoạt động kinh tế diễn ra trôi chảy hơn.
Theo Swamy (2014) trong bối cảnh các ngân hàng chiếm hơn 70-80% của hệ thống tài chính, ổn định tài chính của ngân hàng được thừa nhận nổi trội hơn cho việc đảm bảo sự ổn định tài chính. Ổn định tài chính ngân hàng có thể phân biệt được từ ổn định tài chính. Ngân hàng góp phần quan trọng cho ổn định tài chính, bởi vì ngân hàng đóng vai trò tạo tiền, cấp vốn hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế, cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình tham gia vào hệ thống thanh toán. Mặt khác, ngân hàng có trạng thái đặc biệt bởi vì nó dễ bị tổn thương hơn những ngành khác.
Trạng thái và những vấn đề của ngân hàng thường đặc biệt hơn vì nó đại diện của các quỹ và chính phủ muốn quản lý nó một cách chặt chẽ. Hơn nữa, hiện nay ngân hàng đòi hỏi phải có hoạt động thanh toán và cho vay liên ngân hàng. Với sự kết nối này, nếu một ngân hàng thiếu an toàn sẽ dẫn đến mối đe dọa truyền rủi ro tới các ngân hàng khác, tạo sự lây lan liên ngân hàng, dẫn đến rủi ro hệ thống. Sự phối hợp không cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, sự chấp nhận rủi ro của ngân hàng, các khoản phải trả của bảng cân đối kế toán là những biểu hiện của sự bất ổn của các NHTM.
Hoạt động của NHTM có mối quan hệ gần gũi với hoạt động hàng ngày của các chủ thể khác trong xã hội, bất kỳ sự đổ vỡ ngân hàng nào đều tác động tiêu cực 8 đến toàn bộ nền kinh tế xã hội. Do vậy, theo Swamy (2014), ổn định tài chính của ngân hàng cốt yếu để giảm đến mức tối thiểu gia tăng tác động đến nền kinh tế và xã hội do những vấn đề từ ngành công nghiệp này. Mức độ ổn định tài chính của ngân hàng phụ thuộc vào một số yếu tố nội tại ngân hàng như là mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, khả năng sinh lợi, thanh khoản, ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất, và các chính sách điều tiết vĩ mô của NHNN. Như vậy, ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại là trạng thái mà các ngân hàng thương mại có thể phân bổ hiệu quả các nguồn lực, có khả năng thực hiện tốt chức năng trung gian, hỗ trợ các ngành nghề kinh tế khác phát triển, đồng thời có khả năng chống đỡ lại các cú sốc trong nền kinh tế.2 Đo lƣờng ổn định tài chính của n n n t ƣơn mại Để đo lường ổn định tài chính của ngân hàng, các nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2012), Beck và cộng sự (2013), Demirguc-Kunt và Huizinga (2010), Houston và cộng sự (2010), Laeven và Levine (2009) và nhiều nghiên cứu khác sử dụng hệ số Z-score.
Z-score phản ánh độ lệch chuẩn mà lợi nhuận giảm tới mức vượt quá vốn chủ sở hữu ngân hàng. Tỷ lệ Z-score cao hơn ngân hàng sẽ ít rủi ro hơn, xác xuất phá sản thấp hơn và sự ổn định cao hơn. Z-score được sử dụng để đo lường xem ngân hàng có khả năng bị rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không. Hay nói cách khác, hệ số Z-score giúp dự báo khả năng phá sản của các ngân hàng.
Ưu điểm của việc sử dụng Zscore để đánh giá khả năng phá sản của ngân hàng là cách tính khá dễ dàng, không phân biệt cấu trúc hay phương hướng kinh doanh của các tổ chức. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là không phản ảnh được mối tương quan giữa các tổ chức tài chính. Trong nghiên cứu của mình, Nguyen và cộng sự (2012) sử dụng chỉ số Z-score để đo lường tính ốn định của ngân hàng, bao gồm lợi nhuận, đòn bẩy và mức biến 9 động lợi nhuận trong một ngân hàng đơn lẻ để đo lường khoảng cách với rủi ro. Nó được đưa ra bởi chỉ số sau: ROAi , j ,t E / TAi , j ,t Zi , j ,t KUA Trong đó: ROA là lợi nhuận tính trên tổng tài sản trung bình và E là nguồn vốn, TA là tổng tài sản trong khoảng thời gian nghiên cứu, KUA là độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tổng tài sản trung bình.
Vì vậy ổn định của ngân hàng sẽ tăng khi lợi nhuận và mức vốn cao hơn, giảm khi thu nhập không ổn định phản chiếu qua độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản cao hơn. Cùng nghiên cứu về ổn định tài chính ngân hàng, Beck và các cộng sự (2013) cũng sử dụng chỉ số Z-score để đo lường của ngân hàng. Rủi ro phá sản của các ngân hàng được đo lường bằng cách sử dụng hệ số logarit tự nhiên của Z-score. Z- score đo lường khoảng cách tới vỡ nợ và được tính toán như sau: ROA ( E / A)i ,t Zi ,t ( ROA)i ,t Trong đó: ROA là suất sinh lời trên tài sản, E/A chỉ ra tỷ lệ vốn trên tổng tài sản và (ROA) là độ lệch chuẩn của suất sinh lời trên tài sản.
Nghiên cứu sử dụng thời gian 3 năm liên tục, ước lượng độ lệch tiêu chuẩn của ROA cho phép biến đổi trong thời gian mẫu của Z-score.