CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tài chính toàn diện 1. Sự ra đời và phát triển tài chính toàn diện Để tìm ra nguồn gốc của tài chính toàn diện ta cần đề cập tới tài chính vi mô. Cụ thể là tài chính vi mô có thể được xem như một cấu phần và là điểm khởi đầu của tài chính toàn diện xét về mặt nội hàm của tài chính toàn diện là hướng tới mở rộng việc tiếp cận tài chính cho người dân chưa được hoặc ít được sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Các nghiên của Ledgerwood (1999), Littlefield & cộng sự (2003), Nguyễn Kim Anh & cộng sự (2011) đã rút ra tài chính vi mô có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giúp giảm nghèo, tạo cơ hội bình đẳng thông qua cung cấp dịch vụ tài chính tới khách hàng vi mô. Đây là những đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng tài chính nhưng khó tiếp cận với dịch vụ này trong xã hội. Trước những năm 1990, các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước đều đã có các hoạt động tài trợ cho các gia đình nghèo qua các hoạt động từ thiện. Hoạt động này giúp các gia đình nghèo tiếp cận đến tài chính và các dịch vụ tài chính một cách dễ dàng hơn và có thể giúp họ có cuộc sống bớt nghèo khổ hơn.
Tuy nhiên, hoạt động này mang đến tính ỉ lại và khiến các hộ gia đình nghèo không có động lực thoát nghèo và không có hướng đi lâu dài cho ổn định kinh tế gia đình. Từ những năm 1990, tín dụng vi mô ra đời gắn với với sáng kiến về thế chấp xã hội (social collaterial) thay thế cho thế chấp tài sản. Khi đó các tổ chức tài chính (trong đó có cả ngân hàng) đã có thể cho vay đối với nhóm thu nhập thấp bằng cách thế chấp xã hội vì những người nghèo và thu nhập thấp không có tài sản thể chấp. Từ đó khái niệm về tín dụng vi mô ra đời và được định nghĩa là hoạt động cho vay các món nhỏ, lẻ đến người nghèo và thể hiện người nghèo cũng có thể vay vốn nhỏ và trang trải phần trả nợ cho khoản nợ này của mình.
Đến cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, sự phát triển của tín dụng vi mô phát triển đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ và sản phẩm tài chính đa dạng khác của người nghèo. Hộ gia đình nghèo khi tham gia sản xuất họ có nhu cầu tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính để đầu tư, tạo tài sản và có được thu nhập. Đồng thời, các hộ gia đình nghèo cũng cần khoản tích lũy để tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và quản lý rủi ro trong hoạt động của đời sống hàng ngày. Căn cứ trên 2 góc độ này, dịch vụ tài chính cung cấp đến người nghèo đã mở rộng từ tín dụng sang cả tiết kiệm và bảo hiểm.
Đồng thời, việc cung ứng các dịch vụ tài chính này cũng đã được mở rộng từ chỉ nhóm người nghèo, hộ gia đình sang cả các doanh nghiệp nhỏ. Từ đó, khái niệm tài 10 chính vi mô ra đời và được định nghĩa là hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính như gửi tiền, cho vay và bảo hiểm đến doanh nghiệp nhỏ và nhóm đối tượng nghèo hay có thu nhập thấp. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, hoạt động tín dụng vi mô có một số điểm thoái trào vì cung ứng hơi quá mức các khoản vay trong ngắn hạn và do cơ sở hạ tầng tài chính yếu kém (các công cụ và biện pháp đánh giá điểm tín dụng đến các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ và từng hộ gia đình nghèo chưa hợp lý) cũng như thiếu sự giám sát. Điều này dẫn đến, lượng lớn người nghèo/doanh nghiệp nhỏ đi vay với số vốn quá năng lực và có khả năng vỡ nợ cao, các khoản nợ quá hạn tăng lên.
Những rủi ro này dẫn đến các tổ chức tài chính vi mô cũng như các tổ chức tài trợ quốc tế phải xem xét lại phạm vi của tài chính vi mô và thấy rõ hơn sự cần thiết và quan trọng của hoạt động nâng cao nhận thức tài chính và bảo vệ người tiêu dùng trong các hoạt động tài chính vi mô. Đồng thời, họ cũng thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ tài chính đến một lượng lớn nhóm người dân không đủ điều kiện để tiếp cận dịch vụ tài chính bởi qua đó sẽ tạo thêm việc làm và thu nhập cho nhóm người nghèo và thu nhập thấp. Ngoài ra, việc phát triển khoa học công nghệ cũng đòi hỏi hoạt động tài chính vi mô có thay đổi mô hình hoạt động và cách tiếp cận nhằm áp dụng được khoa học công nghệ vào cung ứng dịch vụ tài chính. Trên cơ sở đó, đến cuối những năm 2000, khái niệm tiếp cận tài chính (access to finance) đã được hình thành với phạm vi tiếp cận rộng hơn.
Chính phủ một số quốc gia đang phát triển như Brazil, Nam Phi đã sớm nhận ra vai trò của thúc đẩy tài chính và đưa vào nhiệm vụ quốc gia và nghiên cứu và thực hiện một số sáng kiến đầu tiên giúp thúc đẩy tài chính toàn diện. Đồng thời, trong giai đoạn này, việc phát triển và áp dụng nhanh khoa học công nghệ với các sáng kiến trong việc cung cấp dịch vụ và sản phẩm tài chính qua kênh điện thoại di động, điểm bán hàng (Point of sales) đã thúc đẩy tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và người dân nghèo, thu nhập thấp ở vùng sâu, vùng xa. Cho đến nay, phạm vi và đối tượng của từ tài chính vi mô cho đến tài chính toàn diện đã mở rộng không chỉ phục vụ cho nhóm người nghèo, doanh nghiệp nhỏ mà đã mở rộng trên toàn quốc gia, ở mọi nhóm người khó hoặc ít cơ hội tiếp để cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Do đó, tiếp cận tài chính (access to finance/ financial access) đã được thay thế bằng tài chính toàn diện (Financial inclusion).
Thời điểm mới xuất hiện, các nhà nghiên cứu đầu tiên về tài chính toàn diện thường chỉ chú ý đến mức độ tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính. Lúc đó, mục tiêu của tài chính toàn diện chỉ đơn giản là các cách thức để cung cấp các điểm tiếp cận nhằm tăng cường tiếp cận dịch vụ 11 tài chính. Tuy nhiên, trong thực tế tồn tại một số đối tượng có khả năng tiếp cận tài chính nhưng lại không muốn sử dụng dịch vụ. Bên cạnh đó, nhiều người có nhu cầu nhưng không có điều kiện để tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Điều này xảy ra do vẫn tồn tại các rào cản cần xóa bỏ như chi phí dịch vụ quá cao, quy trình, quy định pháp luật phức tạp, hoặc thiếu sản phẩm dịch vụ đa dạng và phù hợp và sự hiểu biết của người dân về các dịch vụ chưa cao. Do đó, cần có sự thay đổi về nhận thức về tài chính theo thời gian để tiến tới cách hiểu hoàn chỉnh hơn về tài chính toàn diện. Theo đó, ngoài thúc đẩy mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính cần thêm vào các nhân tố về tần suất khách hàng sử dụng dịch vụ và chất lượng dịch vụ. Điều này sẽ phản ánh được bản chất đa chiều của tài chính toàn diện, đồng thời, giúp hướng những nỗ lực để thúc đẩy tài chính toàn diện đến cải thiện đồng thời cả ba khía cạnh/nội dung của tài chính toàn diện.
Từ các tiêu thức này, các sáng kiến để thúc đẩy tài chính toàn diện cũng được đưa ra nhằm tăng độ bao phủ tài chính toàn diện, cải thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ tài chính; đa dạng các kênh cung ứng và tăng mức độ sử dụng dịch vụ tài chính của người dân. Từ đó, nội dung của tài chính toàn diện được xem xét đa dạng hơn với nhiều khía cạnh như: thanh toán, công nghệ (công nghệ số) và các kênh cung ứng hiện đại (Công nghệ tài chính FinTech, ngân hàng đại lý, mobile banking,…), tài chính vi mô, hiểu biết tài chính, tín dụng chính sách, các định chế tài chính đặc biệt, giáo dục tài chính, bảo vệ người tiêu dùng,… Như vậy có thể rút ra quá trình tóm tắt về sự hình thành và phát triển tài chính toàn diện như sau: Viện trợ từ thiện => Tín dụng vi mô => Tài chính vi mô => Tiếp cận tài chính => Tài chính toàn diện. Khái niệm về tài chính toàn diện Trong những năm vừa qua, tài chính toàn diện (hay còn gọi là tài chính bao trùm, tên tiếng anh là Finance Inclusion) là một chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm, không chỉ của các học giả mà còn của các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Tùy theo cách nhìn của các tổ chức và nhà nghiên cứu, các định nghĩa về tài chính toàn diện cũng có những góc độ khác nhau và khá đa dạng.
Leyshon & Thrift (1995) là một trong những tác giả đã đưa ra khái niệm về tài chính toàn diện sớm nhất và đã cho rằng “tài chính toàn diện là quá trình một số nhóm xã hội và cá nhân nhất định được tiếp cận với hệ thống tài chính chính thức”. Trong khi đó, Sinclair (2001) định nghĩa tài chính toàn diện là khả năng tiếp cận các dịch vụ tài 12 chính cần thiết bằng các hình thức thích hợp. Leeladhar (2005) lại cho rằng, tài chính toàn diện là việc cung cấp dịch vụ và sản phẩm ngân hàng với chi phí phải chăng cho bộ phận lớn của các nhóm thu nhập thấp và có hoàn cảnh khó khăn. Đồng quan điểm với với Leeladhar (2005), Kochhar & cộng sự (2009) còn mô tả thêm rằng, Tài chính toàn diện không chỉ cung cấp khả năng và năng lực tiếp cận tài chính đối với các nhóm dễ bị tổn thương, nó còn phải phù hợp, công bằng và minh bạch.
Sarma (2008) định nghĩa rằng “tài chính toàn diện là việc tất cả doanh nghiệp và người dân được tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính một cách phù hợp, tiện dụng với nhu cầu và có chi phí hợp lý, trong đó chú trọng nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, những người dễ bị tổn thương, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, do các tổ chức tài chính cung cấp có trách nhiệm và bền vững”. Tương tự, Sarma (2015) cho rằng “tài chính toàn diện là quá trình đảm bảo sự dễ dàng, sẵn có và sử dụng của hệ thống tài chính chính thức cho tất cả các thành viên trong xã hội”. Các quan điểm này cũng đồng nhất với Trung tâm Tài chính toàn diện (CFI).