Lời mở đầu Trình bày lý do thực hiện đề tài, mục đích, đối tƣợng, phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, còn ý nghĩa khoa học, thực tiễn, bố cục luận văn cũng đƣợc trình bày trong phần này. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Giới thiệu các lý thuyết về động lực làm việc của công chức. Trên cơ sở đó, đƣa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyết áp dụng đối với công chức đang công tác tại các phƣờng thuộc Quận Gò Vấp, TP.
Phƣơng pháp nghiên cứu Giới thiệu trình tự nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc ứng dụng. Hơn nữa, đề tài trình bày cách thức lấy mẫu, quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu, đánh giá mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Giới thiệu mẫu nghiên cứu chính thức, quy trình phân tích dữ liệu gồm có: đánh gia yếu tố bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá 16 EFA, phân tích tƣơng quan, phân tích hồi quy, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách Kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt đƣợc.
Từ đó, đề tài tiến hành đƣa ra các hàm ý chính sách giúp cấp có thẩm quyền có phƣơng hƣớng cải thiện động lực làm việc của công chức. Ngoài ra, nghiên cứu đƣa ra một số hạn chế và đề xuất một số hƣớng nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai. 17 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về công chức Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”.
Vai trò của cán bộ và công chức trong công tác quản lý Đội ngũ cán bộ, công chức cần nhận thức đầy đủ và thực hiện đầy đủ mọi nhiệm vụ để thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình. Cán bộ, công chức lãng quyền hay lạm quyền trong công vụ phải dần bị loại bỏ ra khỏi bộ máy. Việc không ngừng nâng cao ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân cũng nhƣ ứng xử trong giao tiếp với nhân dân là việc làm thƣờng xuyên, hằng ngày mà cán bộ, côngchức phải nhắcmình mỗi khi bắt đầu cho một quy trìnhgiải quyết. Sự thờ ơ, coi thƣờng, lơ là trƣớc những đòi hỏicủa nhân dân cần bị lên án.
Quá trình làm việc để xảy ra tắc trách, thiếu tổ chức là điều cấm kỵ hoàn toàn. Đức và Tài phải là hai yếu tố song hành cần có của ngƣờicán bộ, công chức. Đây là điều mà Bác Hồ đã từng căn dặn và luôn chú trọng thựchiện lúc sinh thời. Bởi vì, ngƣời cán bộ, công chức là ngƣời có nhiều cơ hội đƣợc tiếp cận với các điều kiện mà một khi bản lĩnh chính trị ngƣời công chức không vững vàng bên cạnh việc chỉ vận dụng Tài năng mà không xem xét đến yếu tố đạo đức thì rất dễ gây ra những việc làm sai trái.
Bên cạnh đó, nếu một ngƣời 18 có đức độ trở thành công chức nhà nƣớc, nhƣngsuốt ngày chỉ dùngđức độ ấy để giảng đạo và không có tài năng hoặc khôngvận dụngtài năng vào công việc và cuộc sống để tạo nên sản phẩm thặng dƣ cho xã hội thì đạo đức ấy cũng chẳng làm đƣợc gì cả. Mỗi cán bộ, công chức cần tiếp tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình thông qua việc tập huấn, chủ độnghọc hỏi. Cần tham gia các cuộcthi tìm hiểu về cải cách thủtục hành chính để có điều kiện tìm hiểu sâu và chiasẻ kinh nghiệm trong quá trình giải quyết các thủ tục. Khi nắm chắcchuyên môn mới có sự sáng tạo không ngừng trong xử lý một lƣợng lớn thôngtin trong các văn bản, giải quyết tốt các tìnhhuống hành chínhvốn vô cùng đa dạngvề đối tƣợng, lĩnh vực, yêu cầu phục vụ.
Nhƣ vậy nhân viên rất cần và phải đƣợcyêu cầu về kỹ năng sử dụng các phần mềm máy tính, hiểu biết vềcông nghệ thông tin. Các thông tin đƣợc truyền tải, các thủ tục cần sự phối hợp đều đƣợc giải quyết trực tuyến mới đáp ứng yêu cầu giải quyết khẩn trƣơng, nhanh chóng, bảo vệ kịp thời các quyền, lợi ích của nhân dân, doanh nghiệp. Cần tích cực đấu tranh với các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu trong từng quy trình thủ tục, bảo đảm giải quyết thủ tục đúng thẩm quyền, lịch hẹn. Có vậy mới giữ vững và khẳng định uy tín trƣớc sự tin tƣởngtrao quyền của nhân dân.
Khái niệm tạo động lực cán bộ công chức Nhìn chung, động lực làm việc là những yếu tố bên trong kích thích nhân viên làm việc và cho phép họ tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Động lực làm việc gắn liền với lợi ích của nhân viên và ngƣợc lại lợi ích tạo ra động lực cho nhân viên. Trên thực tế động lực đƣợc tạo phụ thuộc vào cơ chế chính sách cụ thể, nhƣ là một công cụ cho sự phát triển của xã hội. 19 Động lực “là năng lượng làm cho bộ máy chuyển động; hay là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” (Từ điển tiếng Việt, 1996).
Động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân (Maier và Lawler, 1973), họ đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân nhƣ sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng * Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh * Đào tạo * Các nguồn lực Động lực = Khao khát * Tự nguyện Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn (Higgins, 1994). Nhƣ vậy, có thể hiểu động lực làm việc nhƣ sau: + Động lực làm việc mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân nhân viên, khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. + Động lực làm việc là sẽ đem lại năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Động lực phụng sự công Động lực phụng sự công là động lực phục vụ xã hội đƣợc kích hoạt bởi các giá trị cụ thể phát sinh ở cơ quan công và các nhiệm vụ của họ (Perry, Hondeghem và Wise, 2010).
Động lực phụng sự công là niềm tin và tinh thần vƣợt qua giới hạn lợi ích cá nhân và tổ chức, quan tâm đến lợi ích của một thực thể giá trị lớn hơn và thúc đẩy cá nhân hành xử chính đáng khi cần thiết (Vandenabeele, 2009). Giới tính, tuổi tác, các cấp độ giáo dục tác động đến động lực phụng sự công. Các nhân viên thâm niên đƣợc ghi nhận đạt mức độ động lực phụng sự công cao hơn so với các nhân viên trẻ hơn, nam giới đạt mức động lực phụng sự công cao hơn phụ nữ, và nhân viên với trình độ học vấn cao hơn 20 cũng đạt đƣợc mức động lực phụng sự công cao hơn (Perry, 1997). Động lực phụng sự công là yếu tố quan trọng không chỉ là động cơ thúc đẩy mà còn cả hiệu suất, cải tiến thực hiện quản lý, trách nhiệm giải trình và niềm tin trong chính phủ (Moynihan và Pande, 2007).
Sự hiện diện của động lực phụng sự công dẫn đến mức độ cam kết cao hơn và sự hài lòng của nhân viên làm việc trong môi trƣờng khu vực công, do đó mang lại hiệu quả công việc cao hơn (Park và Rainey, 2008). Hay theo nghiên cứu của Vandenabeele (Vandenabeele, 2009) về mối quan hệ giữa động lực phụng sự công và hiệu quả công quả, tác động trung gian của sự hài lòng công việc và cam kết tổ chức: cho thấy rằng nhân viên công có mức độ phụng sự công cao sẽ có mức độ hiệu quả công việc cao hơn. Những nghiên cứu trên đây đã tổng hợp thành nhận định rằng động lực phục vụ công hay còn gọi là phụng sự công đó chính là giá trị và niềm tin để tạo động lực cho mỗi ngƣời làm việc trong môi trƣờng công lập thực hiện công việc với sự mong chờ đƣợc giúp đỡ và phục vụ cho xã hội. Một ngƣời cán bộ, công chức một khi đã có động lực phục vụ công cao thì bản thân họ luôn muốn đƣợc phục vụ, họ có đức tính chủ động, chịu khó và giải quyết công việc với một tinh thần tựgiác, tự nguyện rất cao.
Họ cũng có ý thức cao trong việc xây dựng mối quan hệ công tác hài hòa và thân thiện với nhau cũng nhƣ tận tình trong côngtác phụcvụ nhân dân. Động lực làm việc của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước Động lực của cán bộ, công chức là niềm tin, lý tƣởng mạnh mẻ để thực hiện nhiệm vụ, phục vụ cho ngƣời dân, cộng đồng và xã hội. Đội ngũ của cán bộ, công chứccó ý nghĩa hết sức quan trọngtrong việc tuyên truyền chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nƣớc đến mọi ngƣời dân, là ngƣời quản lý cũng nhƣ thực hiện các sách sách của Đảng, nhà nƣớc, tạo nên sự 21 vững mạnh của tổ chức bộ máy ở địa phƣơng, ổn định, nâng cao chất lƣợng hoạt động ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nƣớc. Động lực làm việc việc có ảnh hƣởng đến hiệu suất làm việc của cá nhân, tổ chức, nếu cán bộ, công chức không có động cơ, động lực làm việc, không tích cực trong công việc sẻ ảnh hƣởng đến hiệu suất làm việc cơ quan hành chính nhà nƣớc, làm cho bộ máy trì tuệ, có tác động chƣa tốt đến xã hội, đến nhân dân sinh sống trong địa bàn huyện, liên hệ giải quyết thủ tục hành chính.
Để có đƣợc một kết quả làm việc tốt đẹp, ổn định và bền vững bên cạnh những tác động tƣơng hỗ của các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ và điều kiện tự nhiên thuận lợi thì yếu tố con ngƣời là cực kỳ quan trọng.