Luận án các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử của người tiêu dùng tại thành phố hồ chí minh

Chuyên khảo kỹ thuật phân tích Luận án các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử của người tiêu dùng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Đại học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Tiến sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

293
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.2. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

1.2.1. Nghiên cứu áp dụng mô hình Chấp nhận thông tin – IAM nguyên bản

1.2.2. Nghiên cứu chỉnh sửa mô hình Chấp nhận thông tin – IAM

1.2.3. Nghiên cứu tích hợp mô hình Chấp nhận thông tin – IAM với mô hình hoặc lý thuyết khác

1.2.4. Nghiên cứu về sự hoài nghi

1.2.5. Nhận xét chung về các nghiên cứu liên quan

1.2.6. Nhận dạng cơ hội nghiên cứu về vấn đề chấp nhận thông tin eWOM

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1. Nghiên cứu định tính

1.6.2. Nghiên cứu định lượng

1.7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

2.2. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

2.2.1. Lý thuyết bất hòa nhận thức

2.2.2. Lý thuyết giao tiếp xã hội

2.2.3. Lý thuyết hành động hợp lý – TRA và hành vi dự định – TPB

2.2.4. Lý thuyết triển vọng đánh giá kỹ lưỡng – ELM

2.2.5. Lý thuyết sự thích ứng với xã hội

2.2.6. Mô hình chấp nhận công nghệ - TAM

2.2.7. Mô hình chấp nhận thông tin – IAM

2.3. TỔNG HỢP CÁC NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG eWOM

2.3.1. Các nhân tố liên quan đến người gửi

2.3.2. Các nhân tố liên quan đến thông tin

2.3.3. Các nhân tố liên quan đến người nhận

2.3.4. Các nhân tố liên quan đến đáp ứng thông tin eWOM

2.4. KHUNG THAM KHẢO CHI TIẾT

2.5. CÁCH TIẾP CẬN ĐỂ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.5.1. Ảnh hưởng của các yếu tố thông tin đến việc chấp nhận thông tin eWOM

2.5.2. Ảnh hưởng của sự quá tải thông tin eWOM đến việc chấp nhận thông tin eWOM

2.5.3. Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến việc chấp nhận thông tin eWOM

2.5.4. Ảnh hưởng của sự hoài nghi đến việc chấp nhận thông tin eWOM

2.5.5. Mô hình nghiên cứu đề nghị và Thang đo nháp

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

3.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Thiết kế nghiên cứu định lượng

3.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

3.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

3.4.1. Kết quả phỏng vấn chuyên gia

3.4.2. Kết quả thảo luận nhóm

3.5. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THANG ĐO CHÍNH THỨC

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

4.1.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

4.1.2. Kiểm định thang đo

4.1.3. Kiểm định mô hình đo lường (CFA)

4.1.4. Kiểm định mô hình cấu trúc (SEM)

4.1.5. Đánh giá mô hình cạnh tranh

4.2. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.2.1. Thảo luận về mức độ giải thích của mô hình nghiên cứu

4.2.2. Thảo luận về cách tiếp cận xây dựng mô hình nghiên cứu

4.2.3. Thảo luận về các tác động trực tiếp đến Chấp nhận thông tin eWOM

4.2.4. Thảo luận về các tác động gián tiếp đến Chấp nhận thông tin eWOM

4.2.5. Thảo luận về các tác động tổng hợp đến Chấp nhận thông tin eWOM

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

5.2. HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.2.1. Các hàm ý quản trị rút ra từ thang đo

5.2.2. Các hàm ý quản trị rút ra từ tác động của các nhân tố

5.3. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 – Phiếu khảo sát

Phụ lục 2 – Danh sách tham gia phỏng vấn chuyên gia

Phụ lục 3 – Danh sách tham gia thảo luận nhóm

Phụ lục 4 – Dàn bài và kết quả phỏng vấn chuyên gia

Phụ lục 5 – Dàn bài và kết quả thảo luận nhóm

Phụ lục 6 – Chi tiết của phân tích thang đo với N = 50

Phụ lục 7 – Chi tiết kết quả chạy SPPS của thang đo với N = 500

Phụ lục 8 – Chi tiết kết quả chạy SPPS – AMOS của Mô hình đo lường

Phụ lục 9 – Chi tiết kết quả chạy SPPS – AMOS của Mô hình cấu trúc

Phụ lục 10 – Chi tiết kết quả chạy SPPS – AMOS của Mô hình cạnh tranh

Phụ lục 11 – Chi tiết kết quả chạy SPPS – AMOS của Mô hình gốc - IAM

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử (eWOM) tại TP.HCM. Trong bối cảnh hiện đại, công nghệ thông tin đã làm thay đổi cách thức người tiêu dùng tiếp cận và xử lý thông tin. Hành vi người tiêu dùng ngày càng phụ thuộc vào các nguồn thông tin từ bạn bè và gia đình, đặc biệt là trong môi trường trực tuyến. Theo thống kê, có đến 89% người tiêu dùng Việt Nam tin tưởng vào các khuyến nghị từ người thân, cho thấy tầm quan trọng của truyền thông điện tử trong quyết định mua hàng. Việc chấp nhận thông tin eWOM không chỉ ảnh hưởng đến ý định mua hàng mà còn phản ánh sự tin tưởng của người tiêu dùng vào các nguồn thông tin không chính thức.

1.1 Lý do chọn đề tài luận án

Lý do chọn đề tài này xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của truyền khẩu điện tử trong thời đại số. Thông tin truyền khẩu đã chuyển mình từ hình thức truyền thống sang hình thức điện tử, mở rộng phạm vi và khả năng tiếp cận. Nghiên cứu chỉ ra rằng người tiêu dùng thường tin tưởng vào các đánh giá từ người dùng khác hơn là thông tin từ nhà sản xuất. Điều này dẫn đến việc chấp nhận thông tin eWOM trở thành một yếu tố quyết định trong hành vi mua sắm. Hơn nữa, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chấp nhận thông tin eWOM là cần thiết để hiểu rõ hơn về hành vi người tiêu dùng trong bối cảnh hiện đại, đặc biệt là tại TP.HCM, nơi có sự đa dạng về nhân khẩu học và mức độ sử dụng internet cao.

1.2 Lược khảo các nghiên cứu liên quan

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng mô hình chấp nhận thông tin (IAM) là công cụ hữu hiệu để phân tích chấp nhận thông tin eWOM. Nhiều nghiên cứu đã áp dụng mô hình này để xem xét các yếu tố ảnh hưởng như chất lượng thông tin, độ tin cậy của nguồn tin và sự liên quan giữa người gửi và người nhận. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu về ảnh hưởng của sự quá tải thông tinsự hoài nghi đến việc chấp nhận thông tin eWOM. Điều này cho thấy cần thiết phải mở rộng nghiên cứu để bao quát các yếu tố này, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hành vi người tiêu dùng trong môi trường truyền thông điện tử.

II. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến chấp nhận thông tin eWOM, bao gồm lý thuyết bất hòa nhận thức, lý thuyết giao tiếp xã hội và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Những lý thuyết này cung cấp nền tảng cho việc hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chấp nhận thông tin eWOM. Đặc biệt, mô hình IAM được sử dụng để phân tích các yếu tố như chất lượng thông tin, độ tin cậy của nguồn tin và sự đồng thuận xã hội. Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng tính hiệu quả của thông tin eWOM phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả thói quen sử dụngsự tin tưởng của người tiêu dùng vào nguồn thông tin.

2.1 Một số khái niệm liên quan

Khái niệm truyền khẩu điện tử (eWOM) được định nghĩa là việc chia sẻ thông tin về sản phẩm hoặc dịch vụ qua các nền tảng trực tuyến. Thông tin truyền khẩu này có thể đến từ bất kỳ ai và không bị kiểm soát, điều này tạo ra sự khác biệt lớn so với truyền khẩu truyền thống. Người tiêu dùng thường dựa vào các đánh giá này để đưa ra quyết định mua hàng. Tính hiệu quả của thông tin eWOM phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng thông tin, độ tin cậy của nguồn tin và sự đồng thuận xã hội. Những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về hành vi người tiêu dùng trong bối cảnh hiện đại.

2.2 Các lý thuyết liên quan

Lý thuyết bất hòa nhận thức cho thấy rằng người tiêu dùng có xu hướng tìm kiếm thông tin để giảm thiểu sự bất hòa trong quyết định của họ. Lý thuyết giao tiếp xã hội nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ xã hội trong việc hình thành niềm tin và sự chấp nhận thông tin. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) cung cấp cái nhìn về cách mà người tiêu dùng chấp nhận công nghệ mới dựa trên sự hữu dụng và tính dễ sử dụng. Những lý thuyết này sẽ được áp dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chấp nhận thông tin eWOM trong nghiên cứu này.

25/01/2025
Luận án các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử của người tiêu dùng tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN: Khi tìm mua hàng hóa, kênh thông tin mà người tiêu dùng thường sử dụng là tham khảo ý kiến từ người thân, bạn bè (Hennig-Thurau & cộng sự, 2004). Cách thức giao tiếp trực tiếp để tham khảo ý kiến nhận xét về hàng hóa gọi là truyền khẩu truyền thống – WOM (Word of Mouth). WOM được xem là kênh tham khảo về hàng hóa có giá trị đối với người tiêu dùng và họ tin vào nguồn thông tin này hơn là thông tin từ quảng cáo. Thông tin WOM thường chỉ lan truyền trong một nhóm nhỏ và có phạm vi ảnh hưởng hẹp.

Trong giao tiếp WOM, hình thức giao tiếp là tương tác đối mặt (face to face) và nguồn thông tin là người thân hoặc bạn bè nên người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận thông tin WOM. Các nghiên cứu trước cho thấy có sự liên hệ giữa ý định mua hàng và việc chấp nhận thông tin WOM (Glynn Mangold, Miller & Brockway, 1999; Allsop, Bassett & Hoskins, 2007). Khi Internet trở nên phổ biến, cách thức giao tiếp truyền khẩu truyền thống WOM mở rộng thêm hình thức truyền khẩu điện tử - eWOM (Electronic Word of Mouth). Sau quá trình sử dụng sản phẩm, người tiêu dùng ngày nay nhiều khi đăng nhận xét hoặc trải nghiệm của mình về sản phẩm đó trên các trang web có mục cho người tiêu dùng đánh giá về hàng hóa, hoặc trên các mạng xã hội… và từ đó hình thành cộng đồng truyền khẩu trực tuyến ngày càng phong phú.

Với sự đa dạng này, người tiêu dùng được tiếp cận thông tin về hàng hóa từ nhiều nguồn thông tin trước khi quyết định mua hàng. Thực tế cho thấy, người tiêu dùng thường tin cậy vào các thông tin đánh giá này hơn là thông tin đến từ người bán hoặc tiếp thị, bởi vì họ cho rằng các thông tin đến từ người tiêu dùng thuần túy là một lời khuyên và không phải là quảng cáo, nên trung thực và phản ánh đúng thực tế về hàng hóa hơn. Các số liệu thống kê trên thế giới cho thấy trước khi mua hàng, người tiêu dùng xem các thông tin liên quan đến hàng hóa trung bình ở 10.4 nguồn thông tin khác nhau; có 92% người tiêu dùng đọc các đánh giá về hàng hóa trước khi mua hàng; 63% người tiêu dùng mua hàng từ các website có thêm mục đánh giá của người dùng; các đánh giá về hàng hóa của người tiêu dùng có độ tin cậy cao hơn 12 lần các mô tả hàng hóa được cung cấp bởi nhà sản xuất (Charlton, 2015). Ở Đông Nam Á trung bình có 88% người tiêu dùng đặt niềm tin lớn nhất vào vào các khuyến nghị từ gia đình và bạn bè.

Ở Việt Nam con số này lớn hơn một chút, là 89%, ngoài ra, có khoảng 70% tin vào các thông tin eWOM được lan truyền trực tuyến (Nielsen, 2015). So với WOM thì eWOM dễ lan truyền hơn và có phạm vi ảnh hưởng lớn hơn rất 2 nhiều, do các nền tảng trên Internet cho phép người gửi thông tin eWOM lên mạng theo nhiều hình thức và với chi phí thấp. Tuy nhiên, khác với WOM, thông tin eWOM được tạo ra và lan truyền bởi bất cứ ai và do đó người tiêu dùng cần các căn cứ khác để chấp nhận thông tin eWOM (Cheung & Thadani, 2010). Các công trình nghiên cứu trước về vấn đề Truyền khẩu điện tử - eWOM cho thấy việc Chấp nhận thông tin eWOM là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định mua hàng hóa của người tiêu dùng (Duhan, D.

Wilcox, 1997; Li & Zhan, 2011; Fan & cộng sự, 2013). Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin eWOM được đặt ra ngày càng cấp thiết. Về bản chất, thông tin eWOM chính là thông tin quảng cáo phi thương mại và do đó quá trình truyền thông eWOM là quá trình thuyết phục người nhận thông tin eWOM tin vào và sử dụng eWOM để hỗ trợ quá trình ra quyết định mua hàng hóa (Babić Rosario & cộng sự , 2016). Ngoài ra, theo nghiên cứu của Greenwald (1968) cho thấy có mối liên hệ giữa việc chấp nhận nội dung thông tin và tính thuyết phục thông qua giao tiếp.

Theo đó, tính hiệu quả của sự thuyết phục thông qua giao tiếp có thể đo được bởi mức độ chấp nhận nội dung thông tin. Tuy nhiên, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng việc chấp nhận thông tin eWOM thường chỉ tập trung vào xem xét ảnh hưởng của chất lượng thông tin, độ tin cậy của nguồn tin đến việc chấp nhận thông tin eWOM (Sussman & Siegal, 2003; Cheung, Lee & Rabjohn, 2008; Shen, Cheung & Lee, 2013; Tseng & Wang, 2016) hay ảnh hưởng của mức độ liên quan với người gửi đối với người nhận thông tin đến việc chấp nhận thông tin eWOM (Shen, Zhang & Zhao, 2016; Tang & cộng sự, 2016). Do bản chất dễ tạo ra và dễ lan truyền trên mạng Internet của thông tin eWOM, người tiêu dùng có thể gặp hiệu ứng quá tải thông tin khi tham khảo quá nhiều thông tin eWOM. Tuy nhiên, ít có nghiên cứu về ảnh hưởng của sự quá tải thông tin đến việc chấp nhận thông tin eWOM (Luo & cộng sự, 2013).

Một hệ quả của sự quá tải thông tin eWOM đó là người tiêu dùng có thể sẽ căn cứ vào các tín hiệu khác của thông tin eWOM chứ không căn cứ vào nội dung thông tin eWOM khi tham khảo – căn cứ đó có thể là thông tin xếp hạng hay sự đồng thuận của các người tiêu dùng khác về một đánh giá hàng hóa nào đó. Thông tin về xếp hạng hay đồng thuận phản ánh khía cạnh ảnh hưởng của xã hội đến việc chấp nhận thông tin eWOM (Cheung & cộng sự, 2009; Chou, Wang & Tang, 2015). Mặt khác, do tính thuyết phục cao của thông tin truyền khẩu điện tử, các nhà làm thị trường có khuynh hướng sử dụng các thông tin eWOM giả tạo (gọi là Fake eWOM) làm cho người tiêu dùng khi tham khảo lầm tưởng đó là thông tin eWOM được tạo ra bởi một người tiêu dùng nào đó. Sự hiện diện của thông tin eWOM giả mạo làm tăng sự hoài nghi và làm 3 giảm niềm tin của người tiêu dùng khi tham khảo thông tin eWOM trước khi mua hàng.

Vậy người tiêu dùng sẽ phản ứng như thế nào với thông tin eWOM khi họ nghi ngờ đó là thông tin Fake eWOM? Liệu họ có chấp nhận thông tin Fake eWOM nếu nội dung của thông tin này nhiều khi có chất lượng cao? Tuy nhiên, ít có nghiên cứu về ảnh hưởng của sự hoài nghi về thông tin eWOM đến việc chấp nhận thông tin eWOM (Sher & Lee, 2009). Các nghiên cứu về vấn đề truyền khẩu điện tử ở Việt Nam thường tập trung vào xem xét ảnh hưởng của eWOM đến ý định mua hàng, quyết định mua hàng hoặc hình ảnh thương hiệu (Đào, 2013; Quang & Ngọc, 2015; Thùy Trâm, 2015; Võ & Kỳ, 2015; Hoàng, 2016; Anh, 2017; Đinh, 2017; Lê, 2017; Anh, 2018; Xiao Hong & Thị Thúy, 2018; Hà & Phẩm, 2019; Hạnh, 2019; Khoa, 2019; Huỳnh & cộng sự, 2019; Nam & Giao, 2019; Ngô, 2019). Các nghiên cứu về việc chấp nhận thông tin eWOM chỉ xem xét đến ảnh hưởng của việc chấp nhận thông tin eWOM đến ý định mua hàng (Chí & Nghiêm, 2018; Tuấn, 2020), đến niềm tin thương hiệu (Thảo & Tâm, 2017). Theo hiểu biết của tác giả, tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử có xem xét đến ảnh hưởng của sự quá tải thông tin, ảnh hưởng của xã hội và ảnh hưởng của sự hoài nghi đến việc chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử.

Với mục tiêu đánh giá các nghiên cứu hiện tại về vấn đề Chấp nhận Thông tin Truyền khẩu Điện tử nhằm lấp khoảng trống trong nghiên cứu, đóng góp thêm tri thức mới, tác giả chọn đề tài “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN THÔNG TIN TRUYỀN KHẨU ĐIỆN TỬ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình. Sở dĩ không gian nghiên cứu được chọn là thành phố Hồ Chí Minh do thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm thương mại lớn của cả nước, có sự đa dạng trong nhân khẩu học và có lượng người sử dụng internet cao, có thể đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu.2 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Các nghiên cứu về vấn đề Chấp nhận thông tin eWOM chủ yếu dùng Mô hình Chấp nhận thông tin – (IAM – Information Adoption Model) theo nhiều phương cách (Sussman & Siegal, 2003; Cheung & cộng sự, 2007; Cheung, Lee & Rabjohn, 2008; Cheung & cộng sự, 2009; Fan & cộng sự, 2013; Chou, Wang & Tang, 2015; Zhu, Chang & Luo, 2015; Tseng & Wang, 2016; Zhang, Ko & Carpenter, 2016). Các nghiên cứu vấn đề truyền khẩu điện tử ở Việt Nam có liên quan đến vấn đề Chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử như các nghiên cứu của Võ & Kỳ (2015); Đào (2017); DL & Ngọc (2017); Lê (2017); Nguyễn (2017); Nguyen & Nguyen (2017); Anh (2018); Hoàng & Hồ (2018); Hanh (2018); Trần (2018); Vy (2018); Đạt, Thu & Trang (2019); Khoa (2019); 4 Giao (2020). Phần điểm qua các nghiên cứu thực nghiệm của luận án sẽ duyệt qua các nghiên cứu áp dụng Mô hình Chấp nhận thông tin - IAM.

Nghiên cứu áp dụng Mô hình Chấp nhận thông tin – IAM thường xuất hiện trong các tài liệu ở một trong ba dạng sau: - Sử dụng nguyên gốc Mô hình Chấp nhận thông tin – IAM - Chỉnh sửa Mô hình IAM (chẳng hạn thêm biến điều tiết (Moderator), thay đổi các biến Nhân-Quả trong Mô hình gốc). - Xây dựng Mô hình tích hợp (Kết hợp với các Lý thuyết hoặc Mô hình khác). Ngoài ra, chỉ có một số ít nghiên cứu về sự Hoài nghi đối với thông tin truyền khẩu điện tử, chẳng hạn các nghiên cứu của Sher & Lee (2009); Wang & Chien (2012).1 Nghiên cứu áp dụng Mô hình IAM nguyên bản Có nhiều nghiên cứu dùng mô hình IAM nguyên bản trong các ngữ cảnh khác nhau (Zhang & Watts, 2008; Jamil, 2013; Shuang, 2013; Shen, Cheung & Lee, 2013; Cheung, 2014; Arumugam & Omar, 2015; Yan & cộng sự, 2016; Zhou & Li, 2017). Một nghiên cứu thực nghiệm điển hình dùng nguyên bản mô hình IAM do nhóm nghiên cứu Cheung, Lee & Rabjohn (2008) thực hiện (Hình 1.

Nghiên cứu này xem xét các nhân tố tác động đến việc chấp nhận eWOM trong các cộng đồng trực tuyến. Nghiên cứu của Cheung, Lee & Rabjohn (2008) phỏng vấn trực tuyến 154 người tiêu dùng đã từng sử dụng trang Openrice.com để xem xét các ý kiến về các nhà hàng và đồ ăn ở Hồng Kông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Chấp Nhận Thông Tin Truyền Khẩu Điện Tử Của Người Tiêu Dùng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh" của tác giả Đinh Hùng, dưới sự hướng dẫn của Thầy Đoàn Thanh Hà tại Đại học Lạc Hồng, nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc người tiêu dùng tại TP.HCM chấp nhận thông tin truyền khẩu điện tử. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tiêu dùng mà còn giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cách thức tiếp cận và tương tác với khách hàng trong môi trường thương mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục mua trong thương mại điện tử tại TP.HCM, nơi phân tích các yếu tố quyết định trong hành vi mua sắm trực tuyến. Ngoài ra, bài viết Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Thỏa Mãn Của Khách Hàng Trên Các Trang Web Thương Mại Điện Tử B2C Tại Việt Nam cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về sự hài lòng của khách hàng trong môi trường thương mại điện tử. Cuối cùng, bài viết Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng trong mua sắm trực tuyến sản phẩm công nghệ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá để bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam.