mở đầu nghiên cứu của mình về lý thuyết trật tự phân hạng. Lý thuyết này bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng, do giám đốc của doanh nghiệp luôn nắm rõ các thông tin về tiềm năng tăng trưởng, giá trị của doanh nghiệp và ngay cả những rủi ro hơn là các thông tin mà các nhà đầu tư bên ngoài có được. Theo quan điểm về mức độ rủi ro khác nhau của các nguồn tài trợ mà nhà đầu tư sẽ ưu tiên sử dụng các khoản tài trợ theo một thứ tự như sau: trước hết là sử dụng nguồn vốn nội bộ trong đó chủ yếu là lợi nhuận giữ lại, tiếp theo là vay nợ mới và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần. Đây là một thứ tự ưu tiên hợp lý thể hiện nhà quản lý doanh nghiệp đầy lý trí do việc sử dụng vốn nội bộ thay vì vay nợ bên ngoài hay bán các chứng khoán nợ.
Doanh nghiệp sẽ tránh được các chi phí phát hành, giữ vững uy tín của 14 doanh nghiệp và không phải đối mặt với nguy cơ chia sẽ quyền kiểm soát doanh nghiệp. Nếu như lý thuyết đánh đổi CTV thành công trong việc giải thích sự khác biệt tỷ lệ nợ giữa các ngành thì lý thuyết trật tự phân hạng lại thành công trong việc lý giải sự khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Theo lý thuyết trật tự phân hạng thì trong cùng một ngành, các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thường có tỷ lệ nợ thấp và họ thường sử dụng vốn nội bộ thay vì các nguồn vốn từ bên ngoài rất tốn kém và bất lợi như đề cập ở trên. Điều này trái ngược với quan điểm của lý thuyết đánh đổi CTV là doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì có khả năng vay nợ nhiều và được hưởng lợi từ tấm chắn thuế.
Bên cạnh đó, lý thuyết trật tự phân hạng cũng lý giải được ý nghĩa trong hoạt động quản trị doanh nghiệp. Đó là việc duy trì tỷ lệ nợ thấp ở các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao nhưng có ít cơ hội đầu tư trong khi các doanh nghiệp có vốn nội bộ ít lại có nhiều cơ hội đầu tư hơn sẽ tăng tỷ lệ nợ lên. Ngoài ra, ở các doanh nghiệp phát triển đến giai đoạn bão hòa sẽ tăng tỷ lệ nợ khi có thâm hụt tài chính và khi tài chính thặng dư, họ sẽ giảm tỷ lệ nợ xuống. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Việc phân tích CTTC của doanh nghiệp để xác định CTTC tối ưu trong những năm gần đây được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà tài chính trong cũng như ngoài nước, trong đó chủ yếu là nghiên cứu CTTC của những doanh nghiệp phi tài chính.
Các nhà nghiên cứu thường sử dụng phương pháp hồi quy bội trên nguyên tắc bình phương nhỏ nhất (OLS) để tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Các nghiên cứu về ngân hàng hiện tại vẫn còn hạn chế về số lượng cả trong lẫn ngoài nước. Trong các nghiên cứu đó, các đề tài chủ yếu phân tích tác động của các nhân tố lên CTTC ngân hàng và có một số nghiên cứu tìm ra CTTC tối ưu cho ngân hàng. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả tập trung phân tích sự tác động của các nhân tố lên CTTC của ngân hàng và phần lược khảo các tài liệu có liên quan cũng tập trung chủ yếu vào các nội dung này.
Tác động của quy mô lên cấu trúc tài chính của ngân hàng Để xem xét tác động của nhân tố quy mô lên CTTC của ngân hàng, tác giả tổng hợp mối liên hệ này qua bảng tóm tắt sau: Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu trƣớc đây về tác động của quy mô lên cấu trúc tài chính của ngân hàng Bảng sau thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của quy mô lên CTTC của ngân hàng: dấu “ +“ thể hiện mối quan hệ đồng biến với quy mô. Tác giả Cấu trúc tài chính ngân hàng Monica Octavia & Rayna Brown (2008) + Rient Gropp & Florian Heider (2009) + Ebru Caglayan & Sak (2010) + Nguyễn Thị Ngân (2011) + Nguyễn Minh Phúc (2013) + Trương Lê Ngọc Ân (2013) + Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Về mối liên hệ giữa nhân tố quy mô với CTTC của ngân hàng, tất cả các nghiên cứu thực nghiệm mà tác giả lược khảo đều cho ra kết quả giống nhau, đó là: nhân tố quy mô tỷ lệ thuận với CTTC của ngân hàng. Ngân hàng có quy mô lớn thì có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản lớn và đối với ngân hàng có quy mô nhỏ có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản nhỏ (Monica Octavia & Rayna Brown, 2008; Reint Gropp & Florian Heider, 2009; Ebru Caglayan & Sak, 2010; Nguyễn Thị Ngân, 2011; Nguyễn Minh Phúc, 2013 và Trương Lê Ngọc Ân, 2013). Giải thích cho kết quả này, các nghiên cứu cho rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn có cơ chế kiểm soát rủi ro tốt nên chi phí đại diện thấp hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn.
Bên cạnh đó, ngân hàng có quy mô lớn có được sự tín nhiệm cao nên dễ dàng tiếp cận và gia tăng nợ 16 vay bằng các hình thức như: tiền gửi khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, tiếp nhận vốn tài trợ, vốn ủy thác,. Tác động của cấu trúc tài sản lên cấu trúc tài chính của ngân hàng Về mối liên hệ giữa nhân tố cấu trúc tài sản và CTTC của ngân hàng, tác giả tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây qua bảng 2.2 được trình bày tóm tắt như sau: Bảng 2.2: Tóm tắt kết quả nghiên cứu trƣớc đây về tác động của cấu trúc tài sản lên cấu trúc tài chính của ngân hàng Bảng sau thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của cấu trúc tài sản lên CTTC của ngân hàng: dấu “ +“ thể hiện mối quan hệ đồng biến với cấu trúc tài sản, “-“ thể hiện mối quan hệ nghịch biến với cấu trúc tài sản. Tác giả Cấu trúc tài chính ngân hàng Rient Gropp & Florian Heider (2009) + Nguyễn Minh Phúc (2013) + Monica Octavia & Rayna Brown (2008) - Ebru Caglayan & Sak (2010) - Trương Lê Ngọc Ân (2013) - Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Về mối liên hệ giữa cấu trúc tài sản và CTTC của ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm cho ra những kết quả rất khác nhau. Một số nghiên cứu cho rằng cấu trúc tài sản của ngân hàng tỷ lệ thuận với CTTC của ngân hàng (Rient Gropp & Florian Heider, 2009; Nguyễn Minh Phúc, 2013), ngân hàng có tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản lớn thì có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản lớn và ngược lại ngân hàng có tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản nhỏ thì có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản nhỏ.
Nhiều nghiên cứu khác lại cho rằng tỷ lệ tài sản hữu hình trên tổng tài sản lớn 17 không gắn liền với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao, ngân hàng có cấu trúc tài sản lớn thì có CTTC nhỏ và ngược lại ngân hàng có cấu trúc tài sản nhỏ thì có CTTC lớn (Monica Octavia & Rayna Brown, 2008; Caglayan & Sak, 2010; Trương Lê Ngọc Ân, 2013). Mặc dù, kết quả các nghiên cứu trái ngược nhau hoàn toàn nhưng các tác giả đều đưa ra những lý giải khá chắc chắn. Giải thích cho luận điểm cấu trúc tài sản có quan hệ đồng biến với CTTC của ngân hàng, các nghiên cứu cho rằng kết quả này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết đánh đổi CTV của doanh nghiệp, đó là khi các NHTM có tài sản thế chấp càng nhiều thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng nợ một cách dễ dàng. Trái ngược sự giải thích trên, các nghiên cứu cho ra kết quả mối quan hệ nghịch biến giữa cấu trúc tài sản và CTTC ngân hàng cho rằng do tài sản thế chấp của các ngân hàng TMCP Việt Nam chủ yếu (khoảng hơn 80%) là tiền gửi của các TCTD và chứng khoán đầu tư nhằm dự phòng cho các khoản rủi ro (Trương Lê Ngọc Ân, 2013).
Vì lý do đảm bảo hệ số an toàn vốn tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nên các ngân hàng phải tăng các khoản tiền gửi của các TCTD và các khoản đầu tư nhằm dự phòng rủi ro. Tuy nhiên, tài sản đầu tư lại là những tài sản có rủi ro cao nên việc gia tăng những tài sản này sẽ làm giảm lòng tin của người gửi tiền và các chủ nợ, đây cũng là lý do giải thích đòn bẩy tài chính giảm. Bên cạnh đó, Monica Octavia & Rayna Brown (2008) cho rằng khi ngân hàng có tài sản rủi ro cao thì sẽ có xác suất phá sản cao. Vì vậy, cấu trúc tài sản có mối quan hệ nghịch biến với CTTC của các ngân hàng.
Như vậy, qua lược khảo các công trình nghiên cứu sự tác động của nhân tố cấu trúc tài sản lên CTTC của ngân hàng, các kết quả vẫn chưa thống nhất cả trong lẫn ngoài nước. Các tác giả cũng đều đưa ra những cách lý giải phù hợp với kết quả nghiên cứu đạt được trong nghiên cứu. Và đây cũng chính là vấn đề mà tác giả muốn đề cập và phân tích sâu hơn trong nghiên cứu của mình. Tác động của hiệu quả kinh doanh lên cấu trúc tài chính của ngân hàng 18 Về mối liên hệ giữa nhân tố hiệu quả kinh doanh với CTTC của ngân hàng, tác giả tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm qua bảng 2.3 như sau: Bảng 2.3: Tóm tắt kết quả nghiên cứu trƣớc đây về tác động của hiệu quả kinh doanh lên cấu trúc tài chính của ngân hàng Bảng sau thể hiện kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của hiệu quả kinh doanh lên CTTC của ngân hàng: dấu “-“ thể hiện mối quan hệ nghịch biến với hiệu quả kinh doanh.
Tác giả Cấu trúc tài chính ngân hàng Monica Octavia & Rayna Brown (2008) - Rient Gropp & Florian Heider (2009) - Ebru Caglayan & Sak (2010) - Nguyễn Thị Ngân (2011) - Trương Lê Ngọc Ân (2013) - Nguyễn Minh Phúc (2013) - Nguồn: Tác giả tổng hợp từ danh mục các tài liệu tham khảo Như vậy theo bảng 2.3 trên đây, tất cả các nghiên cứu thực nghiệm mà tác giả lược khảo đều cho ra kết quả giống nhau.