Chương 1 giới thiệu khái quát luận án, bao gồm các nội dung khái quát về sự cần thiết, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, giới thiệu các kết quả chính. Chương 2 tập trung trình bày cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu tiêu biểu về các yếu tố tác động đến CCVL nói chung và CCVL của Việt Nam nói riêng. Chương 2 có tính chất của phần tổng quan nghiên cứu, nhằm tóm tắt các kiến thức cơ bản, cung cấp nền tảng lý thuyết và các cơ sở lý luận cũng như kinh nghiệm nghiên cứu từ các nghiên cứu khác. Đây là phần làm rõ sự kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước.
Chương 3 tập trung phân tích diễn biến CCVL của Việt Nam và diễn biến một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến CCVL. Chương này nhằm làm rõ thực trạng của CCVL thời kỳ hội nhập. Đổ làm rõ bối cảnh của tiến trình hội nhập và bối cảnh của các biến số kinh tế trong nước, bối cảnh quốc tế và tiến trình hội nhập cũng được tổng hợp và phân tích. Chương 4 trình bày khung lý thuyết, mô hình kinh tế lượng, mô tả bộ số liệu, mô tả phương pháp ứng dụng các mô hình kinh tế lượng, tổng hợp và phân tích các kết quả ước lượng.
Do luận án xem xét tác động của các yếu tố đến cả những cán cân thành phần của CCVL nên chương 4 có đề cập chi tiết đến các mối quan hệ của các yếu tố với CCTM và CCTN. Chương 5 là phần kết luận và ứng dụng kết quả nghiên cứu của luận án. Ở chương này, các kết quả chính được tổng hợp và tóm tắt, các khuyến nghị hay ứng dụng thực tiễn của kết quả nghiên cứu được trình bày, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được phác họa. Để làm rõ thêm các nội dung trong phần chính của luận án, nghiên cứu sử dụng ba phụ lục.
Phụ lục A là số liệu về CCTT của Việt Nam, bổ sung số liệu tham khảo một cách có hệ thống về tình hình CCVL trong tổng thể bảng cân đối thanh toán. Phụ lục B trình bày kết quả ước lượng và kiểm định các mô hình bổ sung, là các mô hình ước lượng tác động của các yếu tố đến các cán cân nhỏ hơn nằm trong CCTM và TTCN. Đây là phần bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm để phân tích và đánh giá chiều hướng tác động của một số yếu tố đến CCVL khi các chiều hướng này chưa thể hiện rõ ràng ở các mô hình chính. Phụ lục c trình bày các kết quả kiểm định khuyết tật các mô hình kinh tế lượng đã sử dụng trong luận án, đây là phần thuyết trình chi tiết về độ tin cậy của các 6 công cụ kinh tế lượng.
7 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÔNG QUAN NGHIÊN cứu THựC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁN CÂN VÃNG LAI 2. Các khái niệm và quan điểm cơ sở 2. Tổng hợp các khái niệm cơ bản về cán cân vãng lai Luận án có sử dụng và đề cập đến nhiều thuật ngữ và khái niệm cơ bản về CCVL. Để việc sử dụng các thuật ngữ và khái niệm là nhất quán và rõ ràng, phần này của luận án sẽ tổng hợp và làm rõ các khái niệm.
Cán cân thanh toán quốc tế thường được gọi tắt là cán cân thanh toán (CCTT), là một “báo cáo tổng hợp ghi chép một cách hệ thống toàn bộ những giao dịch của người cư trú với người không cư trú trong một khoảng thời gian nhất định”, thường là một năm (IMF, 2007). Nó “phản ánh giá trị hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế đã xuất khẩu hoặc nhập khẩu cũng như đất nước đã đi vay hoặc cho thế giới bên ngoài vay” (IMF, 2007). Ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng việc thay đổi dự trữ ngoại tệ cũng được phản ánh trong CCTT. Nguồn số liệu để xây dựng hệ thống các chỉ tiêu của CCTT có thể thu thập được từ các tổ chức hải quan, ngân hàng, quỹ hưu trí, các công ty đa quốc gia, và quỹ đầu tư.
Ở Việt Nam, cơ quan chịu trách nhiệm tổng hợp và công bố các thông tin về CCTT là NHNN. Các tổ chức như IMF, WB, ADB coi số liệu CCTT của các nước là thông tin quan trọng và thường xuyên cập nhật một cách có hệ thống. Tổng các khoản mục của CCTT của một nước luôn phải cân bằng vì nguyên tắc ghi sổ hai lần (bút toán kép). Mỗi giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú đều có tính hai mặt, nhận và trả, và cả hai mặt này đều được ghi trong CCTT.
Mỗi lần nhận tiền từ người không cư trú được ghi là một khoản mục có (mang dấu dương), mỗi khoản trả cho người không cư trú được ghi là một khoản nợ (mang dấu âm). Người cư trú và người không cư trú bao gồm tổ chức quốc tế, nhà chức trách, công ty, hộ gia đình và cá nhân. Việc xác định một đối tượng là cư trú hay không cư trú căn cứ theo thời hạn cư trú (thường 12 tháng trở lên gọi là cư trú), loại hình tổ chức (ví dụ IMF, WB không được coi là người cư trú của bất cứ quốc gia nào) và đặc thù công việc (ví dụ công dân đi học tập hoặc chữa bệnh ở nước ngoài thì không coi là người cư trú ở nước đến, dù thời gian có dài hơn 12 tháng). 8 Thông thường, CCTT được trình bày thành các khoản mục: CCVL, cán cân vốn, cán cân tài chính, lỗi và sai sót, dự trữ và các hạng mục liên quan.
CCVL lại được chia thành các khoản mục là CCTM và CCTN. Mỗi cán cân thành phần tiếp tục được chia thành nhiều tiểu mục nhỏ hơn. Hiện nay NHNN Việt Nam sử dụng mẫu CCTT trình bày như hình 2. Các khoản mục cơ bản của CCTT cũng được trình bày trong phụ lục 1.
Cán cân vãng lai Cán cân tài chính (tiếp theo) Hàng hóa: Xuất khẩu f.b Dân cư Hàng hóa: Nhập khẩu f.b Cho vay, thu hồi nợ nước ngoài Hàng hóa (ròng) Tín dụng thương mại và ứng trước Dịch vụ: Xuất khẩu Các khoản phải thu/ phải trả khác Dịch vụ: Nhập khẩu Đầu tư khác: Tài sản nợ Dịch vụ (ròng) Tiền và tiền gửi Thu nhập đầu tư (Thu nhập sơ cấp): Thu Tổ chức tín dụng Thu nhập đầu tư (Thu nhập sơ cấp): Chi Dân cư Thu nhập đầu tư (thu nhập sơ cấp) (ròng) Vay, trả nợ nước ngoài Chuyển giao vãng lai (Thu nhập thứ cấp): Thu Ngắn hạn Chuyển giao vãng lai (Thu nhập thứ cấp): Chi Rút vốn Chuyển giao vãng lai (thu nhập thứ cấp) Trả nợ gốc (ròng) B. Cán cân vốn Dài hạn Cán cân vốn: Thu Rút vốn Cán cân vốn: Chi Chính phủ Tổng cán cân vãng lai và cán cân vốn Tư nhân c. Cán cân tài chính Trả nợ gốc Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: Tài sản có Chính phủ Đầu tư trực tiếp vào Việt Nam: Tài sản nợ Tư nhân Đầu tư trực tiếp (ròng) Tín dụng thương mại và ứng trước Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài: Tài sản có Các khoản phải thu/ phải trả khác Đầu tư gián tiếp vào Việt Nam: Tài sản nợ Đầu tư khác (ròng) Đầu tư gián tiếp (ròng) D. Lỗi và Sai sót Đầu tư khác: Tài sản có E.
Cán cân tổng thể Tiền và tiền gửi F. Dự trữ và các hạng mục liên quan Tổ chức tín dụng (Mục Fgồm: dựtiữ, tín dụng vaytừIMF, tài ỪỢ đặc biệt) Hình 2. Các khoản mục trong cán cân thanh toán Nguồn: Ngân hàng Nhà nước (2018) CCTM được chia thành các tiểu mục là hàng hóa và dịch vụ. Hàng hóa và dịch vụ lại bao gồm nhiều tiểu mục nhỏ hơn.
Khoản mục hàng hóa thể hiện giao dịch thương mại hữu hình hay những hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá. Hàng hóa là những sản 9 phẩm hữu hình, từ nguyên vật liệu thô cho đến các mặt hàng chế tạo. Khoản mục dịch vụ phản ánh các giao dịch thương mại vô hình hay hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ. Dịch vụ là những sản phẩm như vận tải, lưu trú và du lịch, dịch vụ bảo hiểm và tài chính và các dịch vụ của chính phủ.
Thu nhập từ xuất khẩu được ghi với tư cách là một khoản có trong CCTT, trong khi đó nhập khẩu được ghi là một khoản nợ. Một nước có thặng dư CCTM có nghĩa thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi tiêu cho nhập khẩu. CCTN được chia thành sơ cấp và thứ cấp. Thu nhập sơ cấp chủ yếu có được từ đầu tư như cổ tức, tiền lãi, tái đầu tư hay các khoản tiền gửi.
Thu nhập thứ cấp chủ yếu là các khoản chuyển giao vãng lai như cho tặng, viện trợ không hoàn lại, thân nhân gửi tiền từ nước ngoài về giúp đỡ người trong nước và các hỗ trợ tài chính từ thiện. Sự thặng dư CCVL hàm ý đất nước với tư cách là một tổng thể sẽ sở hữu nhiều tài sản quốc tế hơn; trong khi đó thâm hụt hàm ý đất nước giảm sở hữu tài sản (hay tăng nợ) quốc tế hơn. Tài khoản vãng lai có liên hệ mật thiết với tài khoản vốn và tài chính trong tổng thể cân bằng. Tài khoản vốn và tài chính ghi lại tất cả những giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực và tài sản tài chính) giữa người cư trú và người không cư trú.
Tài khoản vốn (nếu tách ra khỏi tài khoản vốn và tài chính) dùng ghi chép các khoản giao dịch như xóa nợ chính phủ. Tài khoản tài chính thường là kênh tài trợ cho thâm hụt tài khoản vãng lai vì theo quy ước ghi chép thì dòng vốn ròng phải bằng thâm hụt tài khoản vãng lai. Trong tài khoản tài chính có hai mục quan trọng là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư thể hiện giá trị các khoản đầu tư của nước sở tại sang các nước khác và ngược lại.
Đầu tư trực tiếp hàm ý các khoản do người nước khác nắm giữ quyền quản lý (có tính chất chi phối) hoạt động sản xuất kinh doanh. FDI là một khoản mục quan trọng trong phần ghi chép này. Đầu tư gián tiếp thường liên quan đến các khoản đầu tư mà người nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành (không chi phối) hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, sự phân định các khoản đầu tư là trực tiếp hay gián tiếp chỉ là tương đối.
Khoản đầu tư gián tiếp có thể sẽ trở thành trực tiếp khi người góp vốn nâng tỷ lệ sở hữu đến mức nhất định.