Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Yêu cầu phản tố trong tố tụng dân sự" do sinh viên Lê Thị Toán thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thị Thúy (chuyên ngành Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2022). Nghiên cứu giải quyết quyền tự định đoạt và cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị đơn trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án dân sự.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Cơ sở pháp lý nền tảng xuất phát từ Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Trong tố tụng dân sự, nguyên đơn thường ở thế chủ động chuẩn bị chứng cứ, tâm lý và tài chính trước khi nộp đơn khởi kiện, trong khi bị đơn đa phần chỉ biết về vụ kiện sau khi nhận được thông báo thụ lý của Tòa án. Quy định về yêu cầu phản tố tạo cơ sở pháp lý cân bằng địa vị tố tụng, bảo đảm quyền tự định đoạt và giúp giải quyết toàn diện tranh chấp.
Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 đã bổ sung nhiều quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 200, thực tiễn xét xử vẫn bộc lộ ba nhóm vướng mắc lớn:
- Xác định yêu cầu phản tố theo Điều 72 và khoản 2 Điều 200 chưa cụ thể, dẫn đến việc Tòa án áp dụng không thống nhất (nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố và ý kiến phản bác của bị đơn).
- Thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố quy định tại khoản 3 Điều 200 tồn tại nhiều quan điểm trái chiều và xung đột với quy định tại Điều 210.
- Bất cập liên quan đến thẩm quyền thụ lý, thủ tục thực hiện, quyền ủy quyền phản tố và thời hiệu đối với yêu cầu phản tố.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ các quy định pháp luật hiện hành về yêu cầu phản tố của bị đơn, đối chiếu với lịch sử lập pháp và pháp luật quốc tế, từ đó phát hiện hạn chế thực tiễn và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và điều kiện thực hiện quyền phản tố của bị đơn.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua các bản án, quyết định giám đốc thẩm cụ thể; phân tích những bất cập trong việc xác định phản tố, thời điểm đưa ra yêu cầu và thẩm quyền thụ lý.
- Đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp hướng dẫn áp dụng thống nhất cho Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về yêu cầu phản tố của bị đơn (khái niệm, đặc điểm, chủ thể, điều kiện, thời điểm, trình tự thủ tục, thời hiệu); các quy định tương ứng trong lịch sử lập pháp Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia (Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Vương quốc Anh).
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào phương diện lý luận và thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đối với các vướng mắc: xác định tư cách phản tố, thời điểm thực hiện/thay đổi/bổ sung/rút yêu cầu, thẩm quyền và thủ tục thụ lý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung pháp lý và tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và án lệ, bao gồm:
- Văn bản pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 2013; BLTTDS năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015); BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011); Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Thông tư số 1-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC; Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017.
- Pháp luật quốc tế: BLTTDS Liên bang Nga (Điều 54), BLTTDS Nhật Bản (Điều 55, Điều 146), Quy tắc Tố tụng dân sự Vương quốc Anh (CPR Part 20), BLTTDS Cộng hòa Pháp (Điều 70).
- Công trình khoa học kế thừa: Giáo trình và sách tình huống của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; các bình luận khoa học của Nguyễn Thị Hoài Phương, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Nhung; các nghiên cứu chuyên khảo của Đặng Thanh Hoa, Lưu Tiến Dũng; các luận văn thạc sĩ của Ngô Thế Anh (2021), Nguyễn Ngọc Sơn (2020), Phạm Thị Thúy (2017), Trần Thị Diệu Linh (2017).
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích: Phân tích nội hàm các điều luật của BLTTDS 2015 và các phán quyết thực tế của Tòa án để làm rõ cơ chế thực thi quyền phản tố.
- Phương pháp lịch sử: Truy nguyên sự hình thành chế định phản tố trong pháp luật Việt Nam từ Sắc lệnh 51/1946 qua các giai đoạn phát triển.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Việt Nam với mô hình tố tụng của Nga, Nhật Bản, Pháp, Anh về ủy quyền phản tố, tính liên quan của nghĩa vụ bù trừ và thời điểm đưa ra yêu cầu.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các vướng mắc thực tiễn từ các bản án để xây dựng kiến nghị hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về yêu cầu phản tố
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về chế định phản tố trong tố tụng dân sự thông qua 3 nội dung trọng tâm:
-
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:
- Khái niệm: Thuật ngữ "phản tố" có nguồn gốc Hán - Việt ("phản" là trái/ngược, "tố" là nói chống lại; nghĩa là người bị kiện kiện ngược lại nguyên đơn) và tương đương với khái niệm counterclaim trong hệ thống thông luật (Black's Law Dictionary, Dictionary of Law). Về bản chất, phản tố là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ) có yêu cầu độc lập, được giải quyết trong cùng một vụ án dân sự.
- Đặc điểm: (i) Chỉ phát sinh khi vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý; (ii) Chỉ dành riêng cho bị đơn trong vụ án dân sự (không áp dụng trong việc dân sự do không có tranh chấp đối kháng); (iii) Làm thay đổi địa vị tố tụng của đương sự theo Điều 217 và Điều 245 BLTTDS 2015 khi nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện (bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn).
- Ý nghĩa: Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa các đương sự, tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết vụ án toàn diện và khách quan, đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian tố tụng.
-
Quy định pháp luật và điều kiện thực hiện:
- Chủ thể và vấn đề ủy quyền: Phân tích quyền của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Tác giả đối chiếu quy định tại Điều 86 BLTTDS 2015, Điều 54 BLTTDS Liên bang Nga và Điều 55 BLTTDS Nhật Bản để lập luận rằng bị đơn hoàn toàn có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện yêu cầu phản tố nếu văn bản ủy quyền ghi nhận rõ ràng nội dung này.
- Ba điều kiện thụ lý yêu cầu phản tố (khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015):
- Điểm a: Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu khởi kiện (phân tích qua Bản án số 01/2018/DS-ST ngày 30/5/2018 của TAND huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai về tranh chấp vay tiền đối trừ 20.000.000 đồng và 360.000.000 đồng).
- Điểm b: Yêu cầu phản tố nhằm loại trừ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn (phân tích qua Quyết định giám đốc thẩm số 29/2019/DS-GĐT ngày 06/6/2019 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp hủy hợp đồng thuê khách sạn Tây Đô và xử lý 819.000.000 đồng tiền cọc).
- Điểm c: Yêu cầu phản tố có mối liên hệ mật thiết, giúp giải quyết vụ án nhanh chóng và chính xác hơn.
-
Phân định các quyền tố tụng của đương sự:
| Tiêu chí phân biệt |
Yêu cầu phản tố (Điều 200 BLTTDS) |
Ý kiến phản bác của bị đơn |
Yêu cầu độc lập (Điều 201 BLTTDS) |
| Chủ thể thực hiện |
Duy nhất bị đơn trong vụ án dân sự |
Bị đơn |
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan |
| Bản chất pháp lý |
Bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn/NCQLNVLQ |
Lời biện hộ, bác bỏ một phần/toàn bộ yêu cầu khởi kiện |
Khởi kiện độc lập bảo vệ quyền lợi riêng trong cùng vụ án |
| Hệ quả khi nguyên đơn rút đơn |
Vụ án tiếp tục giải quyết; thay đổi tư cách bị đơn thành nguyên đơn |
Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án |
Vụ án tiếp tục giải quyết; NCQLNVLQ trở thành nguyên đơn |
| Nghĩa vụ tạm ứng án phí |
Bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí như nguyên đơn |
Bị đơn không phải nộp tạm ứng án phí |
NCQLNVLQ phải nộp tiền tạm ứng án phí |
Chương 2: Bất cập trong thực tiễn giải quyết yêu cầu phản tố và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích 4 nhóm vướng mắc thực tiễn điển hình và luận giải hướng xử lý:
-
Bất cập trong xác định yêu cầu phản tố:
- Trong tranh chấp chia di sản thừa kế: Phân tích vụ án tại Bình Giang (Hải Dương) giữa nguyên đơn bà Vũ Thị Là và bị đơn ông Vũ Xuân Mùi liên quan đến thửa đất số 92 (280m²) và thửa đất số 101 (117m²). Tòa án thụ lý yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của ông Mùi dưới dạng yêu cầu phản tố là không chính xác; Viện kiểm sát huyện Bình Giang đã kiến nghị xác định đây thực chất chỉ là ý kiến của bị đơn vì cùng hướng đến giải quyết khối di sản thừa kế của bố mẹ để lại.
- Trong vụ án ly hôn: Đánh giá tranh chấp tài sản chung khi nguyên đơn chỉ xin ly hôn nhưng bị đơn yêu cầu phân chia tài sản (Bản án số 641/2020/HNGĐ-ST ngày 23/12/2020 của TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang chia 10 chỉ vàng 18k). Tác giả bảo vệ quan điểm đây là việc giải quyết quan hệ sở hữu tài sản chung của vợ chồng theo yêu cầu của đương sự chứ không mang bản chất phản tố.
- Trong tranh chấp quyền sử dụng đất có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ): Phân tích Bản án số 55/2021/DS-PT ngày 29/01/2021 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (tranh chấp giữa Công ty Sasco và đại diện thừa kế của bà Nghiêm Tuyết Tr4 tại Phú Quốc). Tác giả khẳng định việc yêu cầu hủy quyết định cá biệt thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 2 Điều 34 BLTTDS 2015, đối tượng bị tác động là cơ quan cấp giấy chứ không phải là một yêu cầu kiện ngược hướng vào nguyên đơn.
-
Bất cập về thời điểm thực hiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu phản tố:
- Xung đột quy định thời điểm: Khoản 3 Điều 200 quy định bị đơn phải đưa ra yêu cầu phản tố "trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải". Tuy nhiên, luật không quy định rõ là phiên họp lần thứ nhất hay các phiên họp tiếp theo.
- Mâu thuẫn với Điều 210: Điểm a khoản 2 Điều 210 cho phép Thẩm phán hỏi đương sự về việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu phản tố tại chính phiên họp, dẫn đến cách hiểu bị đơn vẫn có quyền nộp đơn phản tố tại phiên họp. Tác giả đối chiếu với quy định mở của Anh (CPR Part 20.4) và Nhật Bản (Điều 146 BLTTDS Nhật Bản cho phép phản tố đến khi kết thúc tranh luận miệng) để đề xuất hướng hoàn thiện.
-
Vấn đề thẩm quyền thụ lý, thủ tục và thời hiệu:
- Khi nguyên đơn rút đơn và Tòa án chuyển đổi tư cách bị đơn thành nguyên đơn theo Điều 217, phát sinh khoảng trống pháp lý về việc Tòa án hiện tại có tiếp tục giải quyết hay phải chuyển vụ án nếu nơi cư trú của người bị kiện mới không thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ.
- Đề xuất hoàn thiện cơ chế tính thời hiệu đối với từng loại yêu cầu phản tố để tránh sự tùy nghi khi xét xử.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu cụ thể
- Làm rõ tiêu chí nhận diện phản tố: Khẳng định yêu cầu phản tố bắt buộc phải là yêu cầu độc lập, không cùng nội dung với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phải thỏa mãn một trong 3 điều kiện tại khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015.
- Làm sáng tỏ tính liên quan của quan hệ bù trừ nghĩa vụ: Phân tích sự chưa thống nhất giữa hai luồng quan điểm về điểm a khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015; so sánh với Điều 70 BLTTDS Pháp để chỉ ra rằng việc bù trừ nghĩa vụ tài sản không nhất thiết phải phát sinh từ cùng một quan hệ hợp đồng ban đầu.
- Chỉ ra các điểm xung đột kỹ thuật lập pháp: Phát hiện sự thiếu đồng bộ giữa khoản 3 Điều 200 và khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 về thời điểm giới hạn quyền nộp đơn phản tố của bị đơn.
Đóng góp về mặt giải pháp và hoàn thiện pháp luật
- Đề nghị TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết áp dụng BLTTDS 2015 thay thế Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP, trong đó:
- Thừa nhận quyền của người đại diện theo ủy quyền được nộp đơn phản tố nếu văn bản ủy quyền có quy định rõ ràng.
- Hướng dẫn cụ thể: yêu cầu chia di sản thừa kế của bị đơn trong cùng khối tài sản, yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án ly hôn, và yêu cầu hủy quyết định cá biệt (GCNQSDĐ) theo Điều 34 không phải là yêu cầu phản tố.
- Quy định rõ thời điểm nộp đơn phản tố là trước khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất.
- Quy định nguyên tắc giữ nguyên thẩm quyền giải quyết của Tòa án đang thụ lý khi có sự hoán đổi địa vị tố tụng giữa các đương sự theo Điều 217 và Điều 245.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung chủ yếu vào giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình và đất đai phổ biến; chưa đi sâu phân tích toàn diện việc thực hiện quyền phản tố trong các tranh chấp kinh doanh thương mại quốc tế, sở hữu trí tuệ hoặc thủ tục giải quyết tại cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phản tố trong các vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu các điều kiện hoãn, tách hoặc nhập vụ án khi xuất hiện yêu cầu phản tố phức tạp; khảo cứu sâu hơn mô hình tố tụng điện tử tác động đến thời điểm nộp chứng cứ và thực hiện quyền phản tố.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư tham gia giải quyết các vụ án dân sự.
- Phần nội dung giá trị nhất:
- Mục phân biệt yêu cầu phản tố với ý kiến phản bác và yêu cầu độc lập (Chương 1).
- Phần bình luận thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua 4 vụ án/bản án thực tế về thừa kế, hôn nhân gia đình, hợp đồng và đất đai (Chương 2).
- Hệ thống so sánh đối chiếu quy định về ủy quyền và thời điểm phản tố trong tố tụng dân sự của Nga, Nhật Bản, Pháp và Anh.
Câu hỏi thường gặp
1. Bị đơn có được ủy quyền cho người đại diện thực hiện quyền nộp đơn phản tố hay không?
Có. Căn cứ khoản 1 Điều 86 BLTTDS 2015 kết hợp quy định của BLDS 2015 về ủy quyền, người đại diện theo ủy quyền được thực hiện toàn bộ quyền tố tụng trong phạm vi văn bản ủy quyền. Pháp luật của Liên bang Nga (Điều 54) và Nhật Bản (Điều 55) cũng ghi nhận người đại diện được nộp đơn phản tố nếu văn bản ủy quyền quy định rõ.
2. Trong vụ án tranh chấp thừa kế tại Bình Giang (Hải Dương), vì sao yêu cầu chia đất theo di chúc của ông Mùi không được coi là yêu cầu phản tố?
Vì nguyên đơn (bà Là) yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 92 (280m²), còn bị đơn (ông Mùi) xuất trình di chúc yêu cầu hưởng trọn thửa đất này. Cả hai yêu cầu đều hướng vào cùng một đối tượng là khối di sản thừa kế 280m² đất, không độc lập với nhau, nên yêu cầu của ông Mùi chỉ được coi là ý kiến phản bác của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện.
3. Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất có phải là phản tố không?
Không. Đây là yêu cầu Tòa án xem xét hủy quyết định cá biệt trái pháp luật theo khoản 2 Điều 34 BLTTDS 2015. Đối tượng bị yêu cầu hủy là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước (UBND), không phải là yêu cầu kiện ngược hướng vào quyền và nghĩa vụ đối kháng trực tiếp của nguyên đơn.
4. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn gì về thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố trong BLTTDS 2015?
Khoản 3 Điều 200 quy định bị đơn phải đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng điểm a khoản 2 Điều 210 lại quy định Thẩm phán hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút hoặc đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên họp này, gây ra sự không thống nhất trong áp dụng.
5. Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay và đặt cọc khách sạn Tây Đô (Quyết định GĐT số 29/2019/DS-GĐT), Tòa án cấp cao đã quyết định như thế nào đối với yêu cầu phản tố?
TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã hủy cả bản án sơ thẩm của TAND TP. Kon Tum và bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Kon Tum, giao hồ sơ xét xử lại từ đầu vì Tòa án các cấp trước đó đã chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (hủy hợp đồng thuê và tuyên phạt cọc 819.000.000 đồng) khi chưa làm rõ việc bà M có ký xác nhận chuyển khoản vay thành tiền cọc hay không.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Toán đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định yêu cầu phản tố theo BLTTDS 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu so sánh luật học và phân tích thực chứng các phán quyết của Tòa án, công trình đã làm rõ ranh giới giữa yêu cầu phản tố với các quyền tố tụng khác của đương sự. Các đề xuất hoàn thiện quy định về thời điểm nộp đơn, thủ tục ủy quyền và thẩm quyền xét xử mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.