CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ YÊU CẦU PHẢN TỐ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa yêu cầu phản tố 1. Khái niệm yêu cầu phản tố Yêu cầu phản tố không phải là một thuật ngữ xa lạ đối với những nhà nghiên cứu luật.
Tuy nhiên, đây không phải là một thuật ngữ dễ hiểu và hiện tại cũng chưa có một định nghĩa rõ ràng. Cụ thể, yêu cầu phản tố hiện tại không được định nghĩa trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS 2015). Và trên thực tế, nhiều bị đơn đã bỏ qua quyền đưa ra yêu cầu phản tố của mình do không biết hoặc không hiểu rõ những quyền của mình trong tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là TTDS). Tuy đến thời điểm hiện nay, yêu cầu phản tố vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nhưng nhìn vào lịch sử phát triển, cải tiến lập pháp thì có thể nhận thấy quy định về yêu cầu phản tố lần đầu quy định từ Sắc lệnh 51 được Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành ngày 17 tháng 04 năm 1946.
Cụ thể, Sắc lệnh 51 đã nêu lên rằng: “Khi nào ông Thẩm phán sơ cấp thụ lý một việc kiện, nếu chiếu theo giá ngạch trong đơn trình, có quyền chung thẩm, mà lúc xét xử, lại nhận được đơn phản tố hay đơn xin đối khẩu, thì tùy giá ngạch đơn này có quá số chung thẩm. Ông thẩm sơ cấp đối với tất cả việc kiện cũng có quyền chung thẩm”. Tiếp nối Sắc lệnh này, Thông tư số 1-UB được TANDTC ban hành ngày 03/3/1969 về việc hướng dẫn viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự, khi quy định về nguyên tắc viết bản án phải xác định rõ ràng đối tượng của việc xét xử: “Về dân sự, bản án chỉ giải quyết đúng và đầy đủ những yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu của người thứ ba có liên quan nếu có (thường gọi là dự sự). Đó là những yêu cầu được đề ra trong đơn kiện hoặc đơn phản tố được đương sự xác nhận, sửa đổi hoặc bổ sung ở phiên tòa, trước khi nghị án”.
Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm liên quan đến cụm từ này. Theo Từ điển Tiếng Việt, “yêu cầu” có nghĩa là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền, khả năng của người ấy”1. Từ điển Luật học cũng giải thích về thuật ngữ “yêu cầu của đương sự” là: “Những điều mà đương sự đưa ra trong quá trình tố tụng, muốn Tòa án xem xét, giải 1 Viện ngôn ngữ học Việt Nam (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Yêu cầu của đương sự là sự thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS.
Yêu cầu của đương sự bao gồm yêu cầu về nội dung (yêu cầu trả nợ, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, yêu cầu chia thừa kế… ) và yêu cầu về tố tụng (yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, yêu cầu điều tra…)2. “Phản tố” là một thuật ngữ pháp lý có gốc từ tiếng Hán nên thường gây khó hiểu cho người mới tiếp cận. Trong các văn bản pháp luật TTDS của Việt Nam, thuật ngữ “phản tố” lần đầu xuất hiện trong BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011. Theo điểm c khoản 1 Điều 60 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền “đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu”.
Theo từ điển Hán Việt thì “phản” có nghĩa là “trái, ngược”, “tố” có nghĩa là “nói chống lại”, “phản tố” có nghĩa là “người bị kiện kiện ngược trở lại nguyên cáo”3. Bên cạnh đó, theo Từ điển pháp luật Anh – Việt, “phản tố” (counterclaim) là “lời phản hồi do bị cáo trong vụ kiện dân sự đưa ra, nhằm xác nhận một quyền độc lập chứ không phải lời biện hộ cho lời tố cáo của nguyên đơn”. Dictionary of Law định nghĩa “counterclaim” (phản tố) là: “1. Bị đơn đưa ra yêu cầu tại Tòa án để chống lại người đã khởi kiện mình (Yêu cầu phản tố bao gồm thủ tục tương tự và tuyên bố như đơn khởi kiện).
Yêu cầu bồi thường thiệt hại được đưa ra để đáp lại yêu cầu khởi kiện trước đó: Jones yêu cầu bồi thường thiệt hại 25.000 bảng Anh đối với Smith và Smith đã đưa ra yêu cầu phản tố 50.000 bảng Anh cho việc mất văn phòng”4. Theo Black’s Law Dictionary thì khái niệm “counterclaim” hay phản tố được hiểu là: “Một yêu cầu đưa ra đối với bên có quyền lợi đối lập sau khi bên có quyền lợi đối lập đưa ra yêu cầu với mình; tiêu biểu là yêu cầu của bị đơn đưa ra đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”5. 2 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb.
3 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb. Claim in the court by a defendant against the claimant who is bringing a claim against him (the counterclaim is included in the same proceeding and statement of case as the claim). claim for damage made in reply to a previous claim: Jones claimed for $25,000 in damage against Smith and Smith entered a counterclaim of $50,000 for lost office”. Garner (Edition in Chief) (2001), Black’s Dictionary second pocket edition, West group A Thomson company, page 153: “A claim for relief asserted against an opposing party after an original claim has been made; esp., a defendant’s claim in opposition to or as a set off against the plantiff’s claim-counter”.
9 Có thể hiểu, “phản tố” là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự (sau đây viết tắt là VADS), thực chất việc phản tố của bị đơn là việc bị đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình nhưng được xem xét, giải quyết cùng với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai bên có liên quan chặt chẽ với nhau. Nếu yêu cầu của bị đơn là một việc hoàn toàn không liên quan đến đơn khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn phải khởi kiện thành một VADS mới. Theo định nghĩa Wikipedia thì: “yêu cầu của một bên là yêu cầu phản tố nếu một bên khẳng định yêu cầu của họ đáp lại yêu cầu của người khác. Nói cách khác, nếu một nguyên đơn khởi kiện và một bị đơn trả lời vụ kiện bằng những yêu cầu của chính họ chống lại nguyên đơn, thì những yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố”.
Qua những phân tích nêu trên, tác giả nhận thấy những định nghĩa trên cũng khá tương đồng, bổ sung ý cho nhau. Do đó, có thể hiểu đơn giản: yêu cầu phản tố là việc bị đơn trong vụ án dân sự kiện ngược lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Và yêu cầu phản tố của bị đơn chỉ phát sinh khi liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Đặc điểm yêu cầu phản tố Yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1 Điều 200 BLTTDS 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Nghĩa là sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (sau đây viết tắt là NCQLNVLQ) có yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố của bị đơn với ý kiến của bị đơn dẫn đến trường hợp Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc chỉ là ý kiến của bị đơn nhưng Tòa án lại xem xét giải quyết như yêu cầu phản tố của bị đơn. Những sai sót như vậy, dẫn đến 6 Khoản 1 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015. 10 việc áp dụng pháp luật không đúng làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án hoặc là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Thứ nhất, yêu cầu phản tố chỉ có thể thực hiện khi vụ án dân sự được thụ lý. Với bản chất yêu cầu phản tố là bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập cho nên yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, NCQLNVLQ có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, NCQLNVLQ yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, nếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận và giải quyết thì quá trình tố tụng diễn ra, khi đó bị đơn mới có thể thực hiện được yêu cầu phản tố của mình. Đồng thời, yêu cầu độc lập của NCQLNVLQ cũng chỉ phát sinh sau khi Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố đối với NCQLNVLQ được thực hiện khi chủ thể này đã đưa ra yêu cầu độc lập với bị đơn.
Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn “phát sinh” từ các quyền của đương sự. Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện được xem là tiền đề để các đương sự thực hiện quyền tố tụng của mình. Thứ hai, yêu cầu phản tố chỉ dành cho bị đơn. Bị đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.
Bị đơn trong VADS là một trong các bên đương sự cho nên họ cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ chung của đương sự.