Chương 1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN XUNG ĐỘT TÂM LÝ VỀ KỲ VỌNG THÀNH TÍCH HỌC TẬP GIỮA CHA MẸ VÀ CON CỦA HỌC SINH LỚP 9 TẠI TP. Tổ chức nghiên cứu. Nghiên cứu lý luận.
Nghiên cứu thực tiễn. Thực trạng xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con học sinh lớp 9. Biểu hiện kỳ vọng thành tích học tập của học sinh lớp 9. Thực trạng xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập ở các lĩnh vực học tập của học sinh lớp 9.
Mức độ xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập trên mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi. Mức độ xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập của học sinh lớp 9. So sánh mức độ XĐTL về KVTTHT giữa cha mẹ và con học lớp 9 và các nhóm kỳ vọng thành tích học tập. So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con theo giới tính, học lực, hạnh kiểm, giới tính, thứ tự con trong gia đình và trình độ học vấn cha mẹ.
Hệ quả xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu XĐTL về KVTTHT giữa cha mẹ và con của học sinh lớp 9. 83 Tiểu Kết Chương 2. 86 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
87 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 89 PHỤ LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông XĐTL Xung đột tâm lý TTHT Thành tích học tập KVTTHT Kỳ vọng thành tích học tập KV Kỳ vọng XĐ Xung đột TYT Tự ý thức TĐG Tự đánh giá ĐTB Điểm trung bình SL Số lượng ĐLC Độ lệch chuẩn MĐ Mức độ HS Học sinh DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. Mẫu nghiên cứu học sinh. Mẫu nghiên cứu trên 110 học sinh lớp 9.
Bảng quy đổi điểm trung bình. Mức độ kỳ vọng của học sinh về thành tích học tập (N=316). Biểu hiện kỳ vọng thành tích học tập của học sinh lớp 9 (N=316). Đánh giá mức độ XĐTL về KVTTHT trên các nhóm lĩnh vực (N=316).
Mức độ XĐTL về KVTTHT trên mặt nhận thức (N=110). Đánh giá MĐXĐ trên mặt nhận thức của 206 học sinh không có XĐTL về KVTT giữa cha mẹ và con (N= 206). Biểu hiện XĐTL về KVTTHT trên mặt nhận thức trên từng lĩnh vực (N=110). Mức độ XĐTL về KVTTHT trên mặt cảm xúc (N=110).
Đánh giá mức độ xung đột trên mặt cảm xúc của 206 học sinh không có XĐTL về KVTT giữa cha mẹ và con (N= 206). Đánh giá mức độ XĐTL về KVTTHT trên mặt hành vi (N=110). Đánh giá MĐXĐ trên mặt hành vi của 206 học sinh không có XĐTL về KVTT giữa cha mẹ và con (N= 206). Mức độ XĐTLvề KVTTHT của học sinh lớp 9 (N=110).
Tương quan mức độ XĐTL trên các mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi và mức độ XĐTL về KVTTHT. Xung đột tâm lý về KVTTHT giữa cha mẹ và con trong mong muốn về thành tích học tập. Xung đột tâm lý về KVTTHT giữa cha mẹ và con trong mong muốn về TTHT ở những lĩnh vực cụ thể. So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo giới tính.
So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo học lực. So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo hạnh kiểm. So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo thứ tự con trong gia đình. So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo trình độ học vấn của cha.
So sánh xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập theo trình độ học vấn của mẹ. ĐTB hệ quả khi xảy ra xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập (N=110). Một số giải pháp nhằm giảm thiểu xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con của học sinh lớp 9 (N=316). Lý do chọn đề tài Từ xưa đến nay, gia đình luôn được xem là tế bào của xã hội, là trường học đầu tiên của mỗi cá nhân, nơi rèn luyện và đào tạo cá nhân thành những người khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần để trở thành những thành viên tài, đức ưu tú cho xã hội.
Trong quá trình phát triển của trẻ em, gia đình là nhóm xã hội đầu tiên trẻ tham gia với tư cách là thành viên, mối quan hệ cha mẹ - con ảnh hưởng rất lớn đến chiều hướng, tốc độ và mức độ phát triển tâm lý của trẻ, tuy nhiên “tương tác giữa cha mẹ không phải lúc nào cũng diễn ra trong điều kiện có sự hiểu biết, tương hợp, tạo nên bầu không khí hòa thuận mà nhiều khi xuất hiện mâu thuẫn, xung đột” (Lê Minh Nguyệt, 2015). Nhiều phụ huynh cảm thấy căng thẳng, bất lực khi những đứa con bắt đầu có những tranh luận với bố mẹ về các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt lứa tuổi THCS nói chung và học sinh lớp 9 nói riêng là lứa tuổi đang trải qua quá trình phát triển tâm sinh lý hết sức phức là lứa tuổi dậy thì có nhiều biến đổi quan trong về tâm sinh lý nói chung tạp gây ảnh hưởng đến các hoạt động cuộc sống của rất cần sự hỗ trợ, quan tâm của cha mẹ. Về mặt lý luận có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước nhằm tìm hiểu nguyên nhân, tính chất, đề xuất một số biện pháp giải quyết xung đột trong gia đình như “Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh Trung Học Cơ Sở về nhu cầu độc lập” của tác giả Đỗ Hạnh Nga (2014), “Xung đột tâm lý giữa cha mẹ với con của tuổi thiếu niên (Lê Thị Minh Nguyệt, 2016); “XĐTL giữa cha mẹ và con ở Thành phố Bắc Giang (Thân Thị Nga, 2010)… hầu hết các tác giả đi sâu tìm hiểu nội dung xảy ra XĐ trong gia đình là gì, những nguyên nhân và biện pháp từ đó đưa ra kết luận chung XĐTL vữa mang tinh tích cực và tiêu cực tùy theo tính chất và mức độ xung đột.
Nhưng nếu XĐTL xảy ra theo hướng tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến thiếu niên, gia đình và xã hội (Trần Thị Tuyết Mai, 2014). Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong các mặt học tập, quan hệ bạn bè, thầy cô. thì học tập là nội dung thường xuyên xảy ra XĐTL giữa cha mẹ và con nhất. Đối với học sinh THCS đặc biệt là học sinh lớp 9, ngoài hoạt động chủ đạo là giao tiếp với bạn bè thì hoạt động học tập cũng là rất cần được chú trọng vì ở độ tuổi này các em chuẩn bị bước vào giai đoạn mới chuẩn bị cho các hoạt 2 động học tập khó khăn hơn về kiến thức, kỹ năng và thi chuyển cấp.
Kết quả nghiên cứu Trần Thị Thanh Hà (2000) đã nghiên cứu kỳ vọng cha mẹ về thành tích học tập của học sinh THCS, THPT. Kết quả cho thấy cha mẹ có kỳ vọng nhiều vào sự thành đạt của con. Nghiên cứu Đáp ứng kỳ vọng của con đối với cha mẹ của Tô Thị Hoan (Tô Thị Hoan, 2017) cho thấy áp lực kỳ vọng về học tập là một trong những nguyên nhân gây nên stress, trầm cảm, lo âu tình trạng không hài lòng cuộc sống, giảm chất lượng cuộc sống của trẻ. Hiện nay tuy chưa có những thống kê chính xác nhưng những con số dưới đây cho thấy sự áp lực hay xung đột đỉnh điểm về kỳ vọng học tập của cha mẹ đến con cụ thể gần đây báo Thanh niên số ra 15/9/2017 một học sinh lớp 9 nhảy lầu tự tử vì bị điểm 3 môn Tiếng Anh.
Năm 2015 một con số thống kê sơ bộ nhận định về con số "17% học sinh có ý định tự tử", Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm - Chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Hà Nội, Hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng cho rằng, đây là thực trạng đáng lo ngại. Theo Tiến sĩ Tùng Lâm, lỗi thuộc về người lớn khi đã đặt lên vai trẻ quá nhiều áp lực, kỳ vọng. Trong khi đó, bố mẹ, thầy cô giáo lại chưa trang bị được cho các em những kỹ năng vượt qua giây phút căng thẳng, bế tắc. Từ những lý do trên, người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con của học sinh lớp 9 tại một số trường THCS trên địa bàn Tp.
Mục đích nghiên cứu Xác định mức độ xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con, và hệ quả của nó, từ đó đề xuất một số giải pháp giảm thiểu dạng xung đột này. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con. Khách thể nghiên cứu Học sinh lớp 9 khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Khách thể bổ trợ: Một số phụ huynh học sinh lớp 9 và giáo viên THCS dạy lớp 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Giới hạn về đối tượng:Đề tài chỉ tập trung xác định mức độ xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con trên các mặt nhận thức, cảm xúc, 3 hành vi ở một số lĩnh vực như điểm số cuối học kì I, học kì II; khả năng tổ chức xây dựng nề nếp học tập để đạt kết quả tốt; điểm trung bình một số môn học (Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa, Ngoại Ngữ, Sinh, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), nhận xét của giáo viên, mong muốn kết quả thi chuyển cấp. Giới hạn về khách thể: 316 học sinh lớp 9; 3 giáo viên dạy lớp 9 và 2 phụ huynh. Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Bạch Đằng (Quận 3); THCS Lê Anh Xuân (Quận Tân Phú); THCS Hoàng Hoa Thám (Bình Thạnh).
Giả thuyết nghiên cứu - Xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữa cha mẹ và con của học sinh lớp 9 được biểu hiện rõ nét qua mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi. - Mức độ XĐTL về KVTTHT ở những mong muốn về thành tích học tập khác nhau là khác nhau, trong đó XĐTL về KVTTHT ở mặt kỳ vọng về ĐTB từng nhóm môn học là cao nhất. - Có sự khác biệt về mức độ xảy ra xung đột tâm lý về kỳ vọng thành tích học tập giữacha mẹ và con theo giới tính, thứ bậc con trong gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ. Nhiệm vụ nghiên cứu 6.