CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về khu công nghiệp 1.1 Khái niệm khu công nghiệp KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Năm 1896, KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập ở Trafford Park, thành phố Manchester, Anh. Tiếp theo Anh, các nước khác cũng lần lượt thành lập các KCN như Hoa Kỳ năm 1899, Italy năm 1904 và sau những năm 50 của thế kỷ XX thì sự phát triển các KCN mới thực sự bùng nổ. Hiện nay, mỗi nước đều có quan niệm khác nhau về KCN.
KCN thường được hiểu là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Khu công nghiệp thường do Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng. Còn ở Việt Nam, theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP, KCN được định nghĩa như sau: “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của pháp luật”. Theo Luật Đầu tư 2005, Khoản 20, Điều 3 thì “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản 5 xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”.
Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN. Doanh nghiệp KCN bao gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ KCN. Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp, được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp; Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN, thực hiện các dịch vụ công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công nghiệp, khu chế xuất trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Ban quản lý khu công nghiệp trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một khu công nghiệp (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ cao; do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.2 Đặc điểm của các KCN ở Việt Nam KCN trong giai đoạn hiện nay được hiểu là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới xác định, sử dụng chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.
Về nguyên lý thì các doanh nghiệp trong KCN có ưu thế tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nên giá thuê hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội sẽ rẻ hơn so với đầu tư ở khu vực khác. Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế riêng của Nhà nước và của địa phương sở tại cho những ngành và doanh nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển. 6 Nhà nước chỉ quy định những ngành và doanh nghiệp nào được khuyến khích phát triển và loại nào không được đặt trong khu do yêu cầu bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Khả năng hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp rất thuận lợi vì nằm trên một tiểu vùng.
Khu công nghiệp có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Với những đặc điểm cơ bản trên đây có thể thấy về thực chất KCN là một khu vực đặc biệt để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, áp dụng công nghệ mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào những ngành và những vùng trọng điểm.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về XTĐT vào KCN 1.1 Khái niệm và vai trò của công tác XTĐT vào KCN 1. Khái niệm XTĐT là những hoạt động kinh tế - xã hội nhằm mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thu hút các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước đến đất nước mình, địa phương mình… để đầu tư. Hoạt động XTĐT thực chất là hoạt động marketing trong thu hút đầu tư mà kết quả của hoạt dộng này chính là nguồn vốn đầu tư thu hút được.
Các yếu tố tạo thành chiến lược marketing của một số sản phẩm hữu hình gần giống như các yếu tố tạo nên chiến lược XTĐT. Hoạt động XTĐT do cơ quan xúc tiến đầu tư là Ban quản lý khu công nghiệp hay doanh nghiệp xây dựng hạ tầng KCN tiến hành bao gồm các biện pháp sau: 7 - Tăng cường giới thiệu các dịch vụ, sản phẩm tới nhà đầu tư; - Tăng cường hoạt động xây dựng hình ảnh bằng các hoạt động cụ thể; - Tổ chức mạnh mẽ trong giai đoạn đầu hoạt động quan hệ công chúng, bao gồm: Tổ chức hộ thảo, tổ chức hội nghị khách hàng, tổ chức họp báo, tiếp xúc với khách hàng thường xuyên,… 1. Vai trò của XTĐT vào KCN Mục đích của sản xuất hàng hóa là để đưa ra trao đổi trên thị trường. Sản phẩm của KCN là đất đai đã có kết cấu hạ tầng KCN gắn với vị trí địa lý, các điều kiện đặc thù của mỗi KCN.
Trong khi đó, khách hàng là doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cũng có những đặc điểm, yêu cầu sản xuất riêng có của từng doanh nghiệp. Vì vậy, hoạt động thu hút đầu tư đóng vai trò như cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, theo quan điểm marketing hướng đến thị trường là cần thiết.2 Hệ thống tổ chức XTĐT vào KCN ở địa phương Hai chủ thể chủ yếu ở địa phương tiến hành XTĐT vào các KCN là chính quyền sở tại và các doanh nghiệp xây dựng hạ tầng KCN. - Chính quyền địa phương bao gồm: UBND, Sở Kế hoạch và đầu tư hay cụ thể hơn là Trung tâm XTĐT và Ban quản lý các KCN cấp tỉnh. - Chủ thể là những doanh nghiệp xây dựng hạ tầng KCN.
Chủ đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh hoặc Ban quản lý KCN cấp tỉnh thực hiện chương trình XTĐT chủ động và trực tiếp đối với từng nước, từng dự án, từng tập đoàn, từng công ty có tiềm năng; phối hợp với các đơn vị có liên quan để tổ chức hội thảo, trao đổi tọa đàm, triển lãm giới thiệu về tiềm năng của đất nước, của địa phương và của doanh nghiệp.3 Nội dung của hoạt động XTĐT vào KCN. Công tác XTĐT của chính quyền địa phương Nội dung của công tác XTĐT bao gồm 6 loại hình hoạt động: 1. Xây dựng chiến lược XTĐT Mục tiêu của việc xây dựng một chiến lược XTĐT là để xác định các ngành, lĩnh vực cụ thể tại các khu vực địa lý được lựa chọn mà CQXTĐT có nhiều khả năng thu hút nhất. Xây dựng một chiến lược XTĐT cần xác định: các ngành được hướng tới trong thời gian ngắn hạn và trung hạn, các khu vực địa lý cần chú trọng của chiến lược, các phương pháp XTĐT được sử dụng, những thay đổi cần thiết trong cơ cấu tổ chức và nhân viên trong cơ quan, những thay đổi cần thiết về quan hệ đối tác và ngân sách, các nguồn tài trợ cho các giai đoạn.
Xây dựng hình ảnh Xác định nhân thức của nhà đầu tư và mục tiêu của việc xây dựng hình ảnh. Xây dựng các chủ đề marketing. Lựa chọn và xây dựng các công cụ XTĐT và tham gia vào chương trình phối hợp marketing. Xây dựng quan hệ Một CQXTĐT tham gia vào các quan hệ đối tác để đem lại kết quả tốt hơn cho các nhà đầu tư.
Việc xây dựng một đối tác thành công phụ thuộc nhiều vào việc chuẩn bị và nghiên cứu của CQXTĐT và các cuộc thảo luận chi tiết giữa các đối tác trước khi bắt đầu công việc. 9 Các quan hệ đối tác nên được xem xét lại ít nhất 06 tháng một lần để đảm bảo tính hiệu quả. Lựa chọn mục tiêu và tạo cơ hội đầu tư Xây dựng một cơ sở dữ liệu theo định hướng XTĐT và được cập nhật. Cơ sở dữ liệu vận động đầu tư nên được xây dựng ngay trong nội bộ.
Nó cho phép cơ quan XTĐT thu thập và xử lý các số liệu và nhờ đó CQXTĐT có thể đưa ra những thông tin XTĐT tập trung cao để hướng vào các công ty mà mình muốn vận động. Tiếp đó, CQXTĐT cần lập kế hoạch và thực hiện chiến dịch vận động đầu tư bao gồm ba việc chính: xây dựng kế hoạch marketing, chuẩn bị thư để marketing trực tiếp và thuyết trình tại công ty. Cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các nhà đầu tư Sau khi CQXTĐT có bài thuyết trình trước một nhà đầu tư tiềm năng, cơ quan XTĐT cần chuẩn bị một bản báo cáo về chuyến thăm doanh nghiệp để tạo cơ sở cho việc hỗ trợ các nhà đầu tư thành công. Hỗ trợ nhà đầu tư bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị cho việc đi thực địa, chuẩn bị và thu xếp cho chuyến đi đó và các công việc sau chuyến thăm.
Đánh giá giám sát công tác XTĐT Giám sát là hoạt động kiểm tra một cách đều đặn các tiến bộ trong hoạt động của cơ quan XTĐT để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Đánh giá là quá trình kiểm tra xem các mục tiêu của CQXTĐT đã đạt được chưa và nếu đạt được thì hiệu quả thế nào. Thông qua những hoạt động này, một CQXTĐT có thể đánh giá được hoạt động của mình. Để tạo điều kiện cho hoạt động đánh giá và giám sát được thường xuyên, tất cả các dự án hoạt động của cơ quan XTĐT đều phải xây dựng hệ 10 thống mục tiêu trung gian và kế hoạch thời gian để hoàn thành các mục tiêu đó.
Các mục tiêu và lịch biểu thực hiện này là nền móng của việc thực hiện thành công công tác giám sát và đánh giá. Hoạt động XTĐT của doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng. Các doanh nghiệp này bỏ vốn kinh doanh cơ sở hạ tầng nên họ muốn đồng vốn của họ nhanh chóng được thu hồi và sử dụng có hiệu quả. Để làm được điều đó, công tác XTĐT lấp đầy các KCN là rất quan trọng.