CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XUC TIEN DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO KHU KINH TE 1.1 Khái niệm và đặc điểm của Khu kinh tế 1.1 Khu kinh tế là gì? Sự hình thành và phát triển của các “Khu kinh tế” đã được giới nghiên cứu nước ngoài và trong nước nghiên cứu và tổng kết trong nhiều tác phẩm. Theo đó, các nghiên cứu đã chỉ ra những dấu hiệu đầu tiên của một khu kinh tế đã xuất hiện ở Châu Âu từ thế kỷ XIII khi một loạt các quốc gia-thành phố hình thành ở khu vực ven biển Địa Trung Hải trong thời kỳ phục hưng thương mại đầu thế kỷ XIII. Các thành phố cảng lớn của châu Âu như Marseilles (Pháp), Hamburg (Đức), Liverpool (Anh) đã liên kết với nhau hình thành nên “Liên minh Tự do thương mại”, trong đó, các cảng-thành phố tự do Humburg và Marseilles đóng vai trò là các điểm trung tâm trong liên minh. Gần hai thế kỷ sau đó, cảng Leyghorn (1547) ở Italy ra đời và được các nhà nghiên cứu cho là cảng thương mại tự do chính thức đầu tiên của thế giới.
Những thành phố-cảng này được xem là tiền thân của các khu kinh tế hiện đại ngày nay (Meng, 2003). Mô hình khu kinh tế sau đó đã được nhiều khu vực khác ngoài châu Âu học tập và áp dụng. Trải qua nhiều biến đổi của thời đại và công nghệ, từ các cảng tự do đơn giản ban đầu, mô hình khu kinh tế trở nên đa dạng và phức tạp hơn, chúng được các chính phủ sử dụng như một phương thức để thúc đây kinh tế quốc gia phát triển. Chính sách ưu đãi áp dụng đối với khu kinh tế cũng được các chính phủ thiết kế để phù hợp với điều kiện và mục tiêu phát triển của nước mình.
Vì vậy, cũng có nhiều khái niệm và tên gọi khác nhau về “khu kinh tế”. Báo cáo nghiên cứu của nhiều tổ chức sử dụng cùng một tên gọi nhưng nội hàm, ý nghĩa lại khác nhau; ví dụ ADB, FIAS cùng sử dụng cụm từ “Special Economic Zone” (Đặc khu kinh tế) nhưng khái niệm đưa ra lại khác nhau. Bên cạnh đó, các tổ chức cũng sử dụng nhiều khái niệm dé chỉ các loại hình khu kinh tế khác nhau, như khu kinh tế tự do (Free Economic Zone-FEZ), Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone-SEZ), Khu Thương mai tự do (Free trade zone). Sau đây là một số khái niệm về khu kinh tế: (1) Theo Cơ quan tư vấn tài chính và đầu tư (FIAS), cơ quan nghiên cứu và tư vấn thuộc Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thì: Khu kinh tế được định nghĩa là một khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng, do một cơ quan quản lý, các pháp nhân trong đó được cung cấp những ưu đãi nhất định (ví dụ: các ưu đãi về thuế, nới lỏng về hải quan) khi thực hiện các hoạt động kinh tế bên trong khu.
(2) Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khái niệm về đặc khu kinh tế (SEZ) như sau: Một đặc khu kinh té là một vùng lãnh thé của quốc gia nhưng được điều hành bởi một cơ quan hành chính riêng biệt. Các nhà đầu tư khi đầu tư vào đặc khu kinh tế này được hưởng các ưu đãi đặc biệt về dịch vu, các nghĩa vụ và thuế, cho phép doanh nghiệp vận hành theo một cơ chế được nới lỏng hơn so với quy định thông thường của quốc gia. Các nghĩa vụ về xã hội, môi trường cũng như tiêu chuẩn lao động liên quan đến quá trình đầu tư cũng được nới lỏng hơn so với luật và quy định của quốc gia. (3) Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chê xuât, khu kinh tê đã đưa ra khái niệm: “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của chính phủ.
khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lich, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh té. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay thường dùng khái niệm “khu kinh tế” để chỉ các khu kinh tế do Thủ tướng Chính phủ ra quyét định thành lập thường ở khu vực ven biên (khu kinh tế ven biển) và khu kinh tế thành lập tại khu vực cửa khẩu biên giới đất liền (khu kinh tế cửa khâu). Cho nên, khái niệm “khu kinh tế” của Việt Nam là để chỉ các khu vực có diện tích rộng lớn (trên 10.000 ha) trong đó áp dụng các ưu đãi về thuế, cơ chế hành chính, cho phép đầu tư và kinh doanh thuận lợi hơn so với quy định thông thường. Đặc biệt, khác với khu công nghiệp hay khu công nghệ cao là khu vực chỉ sản xuất hoặc nghiên cứu.
các khu kinh tế cho phép dân cư sinh sống thường xuyên. Khái niệm khu kinh tế của Việt Nam hiện nay không bao gồm khu § công nghiệp, khu chê xuât, khu công nghệ cao. và khác biệt so với khái niệm khu kinh tê theo nghĩa rộng của FIAS. Vậy, từ các khái niệm trên đây, có thể hiểu khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định.
Một khu kinh tế phải có diện tích tối thiểu là 10 ngàn hecta (100 km?), có vi trí địa ly thuận lợi cho phat triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay), kết nối thuận lợi với các trục giao thông huyết mach của quốc gia và quốc tế; dé kiểm soát và giao lưu thuận tiện với trong nước và nước ngoài; có điều kiện thuận lợi và nguồn lực để đầu tư và phát triển kết cấu hạ tang kỹ thuật. Do điều kiện thành lập như vậy, tat cả các khu kinh tế hiện nay của Việt Nam đều ở ven bién. Đặc điểm khu kinh tế Thứ nhất, về không gian thành lập: khu kinh tế được thành lập dựa trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn, có tính đặc thù về điều kiện tự nhiên và vị trí phát triển địa lý kinh tế. Thứ hai, về lĩnh vực đầu tư: khu kinh tế cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực nhưng có mục tiêu trọng tâm, phù hợp với từng khu kinh tế; được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau.
Thứ ba, về quy hoạch téng thể: khu kinh tế được chia làm 2 loại là khu thuế quan và phi thuế quan - Khu phi thuế quan: có ranh giới địa lý xác định, được ngăn cách bằng hàng rào cứng với khu vực xung quanh; không có dân cư sinh sống. Các hoạt động trong khu phi thuế quan bao gồm: sản xuất hàng hóa xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác. Nó có đặc điểm giống khu chế xuất nhưng phạm vi hoạt động lớn hơn - Khu thuế quan: là khu vực còn lại của khu kinh tế, nó bao gồm các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính. Hàng hóa ra vào khu thuế quan thuộc khu kinh tế phải tuân theo pháp luật về mặt hàng, thuế xuất nhập khẩu nhưng được áp dụng thủ tục hải quan thuận lợi.
Hàng hóa có tính “mở” về không gian và tính “tổng hợp” về ngành nghề, lĩnh vực đầu tư. Thứ te, về phân loại khu kinh tế: Có nhiều tiêu chi để phân loại khu kinh tế, song các nhà nghiên cứu thường phân loại khu kinh tế dựa trên các tiêu chí như: theo chức năng của khu kinh tế, theo địa điểm mà khu kinh tế được đặt. Theo đó, có thê phân loại khu kinh tế như sau: - Theo chức năng phát triển của khu kinh tế: Khu thương mại tự do (Free Trade Zone, viết tắt FT.Z): là khu vực có ranh giới nhất định, được hưởng các ưu đãi về thuế theo hướng khuyến khích hoạt động thương mại, được xây dựng các tiện ích như kho lưu trữ, bảo quản hàng hóa, cơ sở hạ tang, tiện ích phục vụ bán buôn bán lẻ, phân phối, vận chuyên hàng hóa; là khu vực được phép thực hiện các hoạt động phục vụ cho hoạt động thương mại như sơ chế, lắp ráp, đóng gói hàng hóa, tạm nhập tái xuất và các dịch vụ khác phục vụ hoạt động thương mại. Các ưu đãi thường thấy trong các khu thương mại tự do là: miễn thuế nhập khẩu vào FTZ, hàng hóa từ nội địa vào FTZ được miễn thuế VAT (nhưng hàng hóa từ FTZ vào nội địa phải đóng thuế).
người lao động làm việc trong FTZ được giảm thuế thu nhập cá nhân. Cảng tự do (Free Port, viết tắt FP): thường là khu vực bao trùm một cảng biển hoặc sân bay, ở đây các hàng hóa đến được lưu trữ, bảo quản tại chỗ mà không phải nộp một số loại thuế (thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt.), có thể được chế biến, đóng gói tại chỗ trước khi được nhập khâu vào nội địa (phải thực hiện nghĩa vụ thuế như đối với hàng nhập khẩu) hoặc tái xuất ra nước ngoài. Tùy vào quy định của mỗi nước mà trong khu FP có thé cho phép được thực hiện các hoạt động khác như dịch vu, du lịch, bán lẻ và/hoặc cho phép dân định cư trong nội khu. - Phân loại theo địa bàn đặt khu kinh tế Khu kinh tế ven biển: là khu kinh tế nằm ven bờ biển, thường gắn với các cảng biển.
Các khu kinh tế ven biển được thành lập với nhiều mục đích khác nhau. trong khu kinh tế có khu thuế quan và khu phi thuế quan. Khu phi thuế quan được gan liền với cảng biển để thuận tiện cho hoạt động bốc dỡ hàng hóa. Khu kinh tế cửa khẩu: là khu kinh tế nằm ở khu vực giáp biên giới, gắn liền với cửa khẩu, được thành lập để thúc đây phát triển thương mại giữa hai nước có chung biên giới.
Trong khu kinh tế cửa khâu thường có các tiện ích phục vụ cho hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu như: kho bãi, dịch vụ logistic, dịch vụ đóng gói. lap ráp, sản xuât hàng hóa; và có thê được hưởng các ưu đãi thuê.