chương I đến chương đến XXIV (trừ cá và các sản phẩm cá), đồng thời không bao gồm các sản phẩm chế biến từ nông nghiệp. Xuất khẩu nông sản là hoạt động xuất khẩu, mặt hàng chính là nông sản, từ một quốc gia ra thị trường quốc tế, đặc biệt đối với Việt Nam là một quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh việc khẩu khẩu các mặt hàng nông sản thế mạnh như gạo, cà phê, rau củ, trái cây, thủy sản, các doanh nghiệp Việt Nam cũng tập trung khai thác, tăng thị phần ở các mặt hàng tiềm năng như cao su, hạt tiêu, dừa, bưởi xanh, sắn,… Hình thức xuất khẩu mặt hàng nông sản: - Xuất khẩu trực tiếp: Các doanh nghiệp trong nước trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng và xuất khẩu mặt hàng nông sản với các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài. Hình thức này mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Ưu điểm của hình thức này là người bán hàng sẽ làm việc trực tiếp với khách hàng là các doanh nghiệp nước ngoài hay thị trường quốc tế, góp phần nâng cao uy tín thương hiệu của doanh nghiệp và tạo mối quan hệ chặt chẽ hơn đối với khách hàng, nắm rõ được quy cách xuất khẩu nông sản, đáp ứng kịp thời những thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng. Tuy nhiên, để thực hiện xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp cần đầu tư thêm thời gian, nguồn lực và các tài nguyên khác để nghiên cứu về thị trường tiêu dùng, nắm 9 bắt kịp thông tin về giá cả, thị hiếu người tiêu dùng, lợi thế và thách thức của các hiệp định tự do thương mại,. - Xuất khẩu gián tiếp: là hình thức xuất khẩu qua một bên trung gian. Các bên trung gian như đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu.
Bên trung gian sẽ chịu trách nhiệm tìm kiếm khách hàng nước ngoài, ký kết các hợp đồng xuất khẩu ủy thác với đơn vị trong nước. Sau đó, các doanh nghiệp trung gian sẽ tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán cho đơn vị nước ngoài. Và cuối cùng bên trung gian nhận phí ủy thác từ chủ hàng. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và vừa còn thiếu nguồn nhân lực có kiến thức xuất khẩu, kinh nghiệm, và nghiệp vụ hải quan, thì hình thức xuất khẩu gián tiếp mang lại lợi ích, khi các doanh nghiệp không phải lo lắng về các thủ tục xuất khẩu, thanh toán quốc tế, chi phí rủi ro thấp.
Tuy nhiên, vì lợi nhuận thu về sẽ được chia cho bên thứ ba, nên các doanh nghiệp cần cân nhắc đầu tư thêm một khoản vốn. Bên cạnh đó, việc thiết lập mối quan hệ thân thiết với các đối tác nước ngoài, khó kiểm soát giá cả các sản phẩm, tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp, và sức cạnh tranh quốc tế cũng trở nên khó khăn hơn, khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu tại chỗ: là loại việc nhà xuất khẩu ở Việt Nam bán hàng cho thương nhân nước ngoài, nhưng lại giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài. Doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ và doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ phải ký kết hợp đồng mua bán với thương nhân nước ngoài, trong hợp đồng nêu rõ thông tin giao nhận tại Việt Nam, thông tin doanh nghiệp nhận hàng do đối tác nước ngoài cung cấp.
Đối với hình thức này, doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ tiết kiệm được khá nhiều chi phí vận chuyển và các loại phụ phí phát sinh khi làm các thủ tục hải quan, tiết kiệm thời gian vận chuyển, hạn chế rủi ro trong xuất nhập khẩu và các chủ doanh nghiệp hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Tuy nhiên xuất khẩu tại chỗ khiến nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động ở thị trường nội địa, hạn chế khả năng tiếp cận với các thị trường quốc tế, vì hàng hóa không được vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia để đến tay thương nhân nước ngoài. Xuất khẩu gia công: là hình thức doanh nghiệp nhận gia công nhận nguyên liệu đầu vào từ một doanh nghiệp khác ở nước ngoài, để chế biến, gia công tạo thành phẩm và giao lại cho bên đặt gia công để nhận thù lao. Doanh nghiệp gia công và doanh nghiệp đặt hàng ký kết hợp đồng gia công, trong đó quy định rõ ràng về các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, số lượng và thời gian giao hàng, và giá cả.
Hình thức này thường phổ biến đối với mặt hàng thâm dụng lao động. 10 Các doanh nghiệp đặt gia công thường là các nước phát triển, thiếu nguồn lao động phổ thông, bên doanh nghiệp nhận gia công thường là các quốc gia đang phát triển, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ. Hình thức xuất khẩu gia công giúp bên đặt gia công tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm thiểu rủi ro, trong khi bên gia công tận dụng được lợi thế của mình để thu hút đầu tư từ doanh nghiệp nước ngoài, tạo thêm cơ hội việc làm cho công nhân, tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất, tiến bộ khoa học, công nghệ hiện đại, từ đó để có những thay đổi và phát triển lớn mạnh. Song, lợi thế cạnh tranh của bên từng nhận gia công về nguồn lao động giá sẽ giảm dần và không còn, khi đó, mối quan hệ gia công giữa hai bên không tồn tại lâu dài.
Tạm nhập - tái xuất: là hoạt động quốc gia xuất khẩu đưa hàng hóa vào lãnh thổ của một quốc gia ( gọi là quốc gia tạm nhập - tái xuất) trong một thời gian ngắn, nhất định, và mang tính tạm thời. Hàng hóa tạm nhập này không dùng để phân phối hay tiêu dùng tại thị trường nội địa, mà sẽ được xuất khẩu ra nước thứ ba, sau khi hàng hóa đã được hoàn tất các thủ tục hải quan. Hình thức này có ba bên tham gia: nước xuất khẩu, nước tạm nhập - tái xuất, nước nhập khẩu. Hàng hóa tạm nhập không phải chịu các loại thuế nhập khẩu (thuế giá trị gia tăng VAT và các loại thuế khác), với điều kiện chúng sẽ được tái xuất trong một thời gian nhất định.
Đặc biệt, những mặt hàng chịu tác động bởi các biện pháp phi thuế quan, cấm vận, rào cản thương mại thường được áp dụng hình thức này, doanh nghiệp đảm bảo nắm rõ các quy trình về hình thức tạm nhập tái xuất, và có kinh nghiệm về nghiệp vụ hải quan. Đối với hình thức tạm nhập - tái xuất, doanh nghiệp tái xuất có thể thu lời khi không cần phải đầu tư chi phí cho sản xuất. Đặc điểm của xuất khẩu nông sản. a) Đa dạng các mặt hàng và hình thức xuất khẩu Các mặt hàng nông sản rất đa dạng, tùy vào điều kiện tự nhiên và khí hậu sẽ có những mặt hàng nông sản riêng.
Sự đa dạng trong các mặt hàng nông sản không chỉ giúp các doanh nghiệp gia tăng thị phần trong nền kinh tế toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn tạo cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi khu vực, vùng miền sẽ có những phương thức canh tác, điều kiện từ nhiên khác nhau, nên chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo đồng đều trong quá trình sản xuất. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, khi các biện pháp phi thuế quan của các thị trường quốc tế ngày càng khắt khe hơn. Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản đẩy mạnh việc tiếp cận thị trường quốc tế bằng nhiều hình thức.
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức phổ biến, các doanh nghiệp ký kết hợp đồng và làm việc trực tiếp với các doanh nghiệp nước ngoài, để xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản. Bên cạnh đó, khi thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, các gian hàng nông sản đã có mặt trên nhiều sàn thương mại điện tử như shopee, 11 Lazada, Tiki,.Đa dạng hóa về hình thức xuất khẩu đã giúp Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận lượng lớn khách hàng, và tạo điều kiện thuận lợi cho trong giao dịch, thanh toán. Sự đa dạng về sản phẩm và hình thức xuất khẩu đã giúp doanh nghiệp tăng cơ hội gia nhập vào thị trường quốc tế thông qua việc gia tăng chất lượng mặt hàng nông sản, tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại, sự hỗ trợ của chính phủ,.Từ đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn góp năng nâng cao vị thế mặt hàng nông sản của một đất nước trên thị trường quốc tế. b) Tính chất mùa vụ Những mặt hàng nông sản phụ thuộc lớn vào mùa vụ, điều kiện tự nhiên của một số vùng lãnh thổ, và biến đổi khí hậu.
Các sản phẩm nông sản như trái cây, rau củ, gạo, thủy sản thường có mùa vụ riêng, vì vậy điều này cũng gây ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản của quốc gia sang thị trường nước ngoài. Khi các mặt hàng nông sản vào chính vụ, điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp người nông dân canh tác và sản xuất ra nhiều mặt hàng nông sản hơn, với chủng loại đa dạng, phong phú. Số lượng nông sản trong giai đoạn chính vụ được cung cấp ra thị trường với số lượng nhiều, nên giá cả thường giảm xuống, tuy nhiên chất lượng không được đồng đều. Ngược lại, khi trái vụ, các mặt hàng nông sản thường khan hiếm, số lượng không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường, nên giá thành thường cao hơn.
Như vậy, điều kiện khí hậu thuận lợi, vị trí địa lý, khả năng thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản tác động mạnh mẽ đến tính mùa vụ của các mặt hàng nông sản. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động giá cả, nguồn cung kịp thời của từng loại mặt hàng nông sản khi vào chính vụ. Đồng thời gây áp lực đến các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, đặc biệt khi vào những mùa lễ hội hoặc các mùa tiêu thụ cao điểm, nhu cầu tiêu dùng một số loại mặt hàng nông sản tăng lên. c) Dễ hư hỏng và yêu cầu bảo quản đặc biệt Tính dễ hư hỏng của nông sản, đặc biệt các mặt hàng rau củ, trái cây, thủy sản trong chuỗi cung ứng, và yêu cầu phải có những phương pháp bảo quản đặc biệt đặt ra những thách thức lớn cho các doanh nghiệp nông sản Việt Nam.
Các sản phẩm nông sản có thời gian bảo quản ngắn hạn, dễ bị hư hỏng bởi nhiệt độ, ánh sáng và cách bảo quản không đúng cách. Các doanh nghiệp phải đối mặt với sự mất mát sản phẩm hư hỏng trong quá trình vận chuyển và bảo quản, gây sự lãng phí lớn.