Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động xuất khẩu lao động đóng vai trò là một trong những trụ cột kinh tế đối ngoại mang tính chiến lược của Việt Nam, vừa giải quyết việc làm vừa mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2006, cả nước đã phái cử được 35.171 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt hơn 50% kế hoạch năm, trong đó khu vực Đông Bắc Á luôn chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng tiếp nhận. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là phân tích sự chuyển dịch của hoạt động xuất khẩu lao động từ tính chất hợp tác đơn thuần sang cơ chế thị trường quốc tế có sự quản lý của Nhà nước.

Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường sức lao động quốc tế; khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng cung ứng lao động Việt Nam sang 3 thị trường trọng điểm tại Đông Bắc Á gồm Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản; chỉ rõ những thành tựu cùng các rào cản nội tại; từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy xuất khẩu lao động trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào dòng dịch chuyển lao động phổ thông và lao động kỹ thuật (không bao gồm chuyên gia) từ năm 1995 đến năm 2005. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua các chỉ số tăng trưởng kinh tế - xã hội rõ rệt. Điển hình trong giai đoạn 1999-2005, chỉ riêng thị trường Đài Loan đã tiếp nhận 167.820 lượt lao động Việt Nam, đóng góp hàng trăm triệu USD kiều hối hàng năm, cải thiện đời sống cho hàng vạn hộ gia đình nông thôn và thúc đẩy quá trình chuyển giao kỹ năng công nghiệp hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị về hàng hóa sức lao động và lý thuyết kinh tế quốc tế về phân công lao động toàn cầu. Theo đó, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt mang đầy đủ giá trị và giá trị sử dụng, chịu sự điều tiết trực tiếp của quy luật cung - cầu. Sự chênh lệch tiền lương thực tế giữa các quốc gia chính là động lực kinh tế cốt lõi thúc đẩy các dòng di chuyển lao động xuyên biên giới. Khung phân tích vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh nhằm làm rõ mối quan hệ bổ trợ: các quốc gia Đông Bắc Á phát triển đối mặt với tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt nhân công trong khu vực sản xuất nặng nhọc, trong khi Việt Nam sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với chi phí cạnh tranh.

Khung lý thuyết của luận văn định hình 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Nguồn lao động: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất.
  2. Sức lao động: Toàn bộ thể lực và trí lực của con người được huy động trong quá trình lao động.
  3. Thị trường lao động quốc tế: Không gian xác lập các quan hệ mua bán, thuê mướn sức lao động vượt ra ngoài biên giới quốc gia.
  4. Di dân quốc tế: Hiện tượng di chuyển chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn của người lao động gắn liền với các mục tiêu kinh tế.
  5. Xuất khẩu lao động: Hoạt động kinh tế đối ngoại thực hiện việc cung ứng sức lao động có thời hạn dựa trên các hiệp định song phương và hợp đồng pháp lý chặt chẽ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Ủy ban Lao động Đài Loan, Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc (KFSB) và Cơ quan Hợp tác Tu nghiệp Quốc tế Nhật Bản (JITCO) trong chuỗi thời gian 11 năm (1995-2005).

Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 159 doanh nghiệp Việt Nam được cấp phép cung ứng lao động sang Đài Loan và 8 doanh nghiệp được phái cử tu nghiệp sinh sang Hàn Quốc. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ có chủ đích nhằm thu thập dữ liệu định lượng đầy đủ từ tất cả các đầu mối doanh nghiệp đang vận hành thực tế.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ và phân tích kinh tế tổng hợp là nhằm bóc tách chính xác các biến động về cơ cấu ngành nghề, dòng kiều hối và sự biến thiên của thị phần lao động qua từng thời kỳ. Bên cạnh đó, phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia quản lý lao động được áp dụng để làm rõ nguyên nhân của các hiện tượng phức tạp như tỷ lệ vi phạm hợp đồng hoặc rào cản chính sách của nước tiếp nhận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô xuất khẩu lao động sang Đông Bắc Á có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng cơ cấu ngành nghề còn mất cân đối nghiêm trọng. Tại Đài Loan, từ 131 lao động năm 1999 đã tăng vọt lên 57.868 người vào năm 2003, nâng thị phần của Việt Nam tại đây từ 0,04% lên 19,20%. Tổng cộng giai đoạn 1999-2005 có 167.820 lao động sang Đài Loan, trong đó nhóm ngành thương mại và dịch vụ (bao gồm giúp việc gia đình và chăm sóc người ốm) chiếm tới 122.834 người (tương đương 73,19%), ngành công nghiệp đạt 34.258 người (20,41%), trong khi các ngành kỹ thuật y tế chỉ chiếm 42 người (khoảng 0,025%).

Thứ hai, tại thị trường Hàn Quốc, lao động Việt Nam chủ yếu tập trung vào khu vực sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giai đoạn 1995-2005, ngành công nghiệp thu hút 42.954 lao động (chiếm hơn 78% tổng số lao động phái cử), ngành thủy sản thu hút 6.514 người (chiếm 11,57%) và giao thông vận tải là 5.495 người (chiếm 9,76%). Việc chuyển đổi sang Chương trình cấp phép việc làm mới (EPS) từ tháng 8/2004 đã tạo bước ngoặt lớn khi đưa gần 16.000 lao động nhập cảnh với mức chi phí chuẩn hóa chỉ khoảng 654 USD.

Thứ ba, tỷ trọng lao động kỹ thuật cao còn ở mức rất thấp. Chương trình Thẻ vàng (Gold Card) tại Hàn Quốc dành cho chuyên gia công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và vật liệu mới triển khai từ năm 2001 nhưng đến cuối năm 2005 chỉ tuyển dụng được khoảng 70 lao động do hạn chế về chuyên môn và ngoại ngữ.

Thứ tư, tình trạng lao động tự ý phá vỡ hợp đồng diễn biến phức tạp. Tỷ lệ lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp trong nhóm giúp việc gia đình tại Đài Loan lên tới khoảng 9%, dẫn đến việc phía đối tác ban hành quyết định tạm dừng tiếp nhận nhóm ngành này từ ngày 20/01/2005.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của tình trạng lao động bỏ trốn xuất phát từ áp lực tài chính do các chi phí môi giới trung gian bị đẩy lên quá cao so với mức quy định, cùng với sự chênh lệch lớn giữa thu nhập trong hợp đồng và thu nhập ngoài thị trường tự do. Khi đối chiếu với bài học quốc tế, mô hình của Philippines với bình quân 600.000 lao động/năm mang lại nguồn kiều hối 2,5-3 tỷ USD (chiếm 6% GDP) nhờ sự điều phối bài bản của Cục Quản lý việc làm ngoài nước (POEA) và Cục Phúc lợi lao động ngoài nước (OWWA) cho thấy Việt Nam còn thiếu các cơ chế bảo vệ và quản lý rủi ro hữu hiệu. Tương tự, Thái Lan đã duy trì hơn 100.000 lao động/năm tại Đài Loan với dòng kiều hối gần 1,5 tỷ USD/năm nhờ chính sách đào tạo tay nghề xây dựng và cơ khí vững chắc.

Để diễn giải trực quan các xu hướng này, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ cột so sánh sự gia tăng thị phần lao động Việt Nam tại Đài Loan qua các năm và bảng phân tích cơ cấu lao động theo 8 nhóm ngành tại Hàn Quốc. Các biểu thị này cho thấy rõ nét sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu từ lao động phổ thông sang lao động qua đào tạo kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị thặng dư và giữ vững uy tín quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Bộ Ngoại giao cần kiện toàn bộ máy tùy viên lao động tại Đài Bắc, Tokyo và Seoul; đẩy mạnh giám sát thực thi Nghị định 81/2003/NĐ-CP nhằm triệt tiêu các hành vi thu phí trái phép, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp xuống dưới 3% trong giai đoạn 2006-2010.

Hai là, chuẩn hóa quy trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các trung tâm dạy nghề và 159 doanh nghiệp phái cử phải kéo dài thời gian giáo dục định hướng và bổ túc ngoại ngữ lên 3-6 tháng trước khi xuất cảnh. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 65% tổng số lao động xuất khẩu trước năm 2010, đáp ứng tiêu chuẩn công nghệ khắt khe của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Ba là, tái cấu trúc chi phí phái cử và hỗ trợ tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần mở rộng quy mô giải ngân cho vay vốn xuất khẩu lao động đối với các hộ nghèo và gia đình chính sách, đồng thời áp dụng rộng rãi cơ chế phái cử phi lợi nhuận tương tự mô hình EPS của Hàn Quốc để giữ mức phí trọn gói dưới 700 USD/lao động.

Bốn là, thành lập các quỹ bảo trợ xã hội và hỗ trợ tái hòa nhập. Học tập kinh nghiệm 3 quỹ phúc lợi của Philippines (quy mô khoảng 4 triệu USD mỗi quỹ), Nhà nước cần xúc tiến thành lập Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước trước năm 2008 nhằm cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, bảo hiểm hồi hương khẩn cấp và kết nối việc làm cho lao động sau khi hoàn thành hợp đồng về nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước: Luận văn cung cấp chuỗi số liệu thực chứng 11 năm và các mô hình quản trị quốc tế để hoàn thiện chính sách, văn bản pháp quy trong quản lý lao động di cư.

Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động (159 doanh nghiệp được cấp phép): Tài liệu mang đến cái nhìn toàn cảnh về thị trường Đông Bắc Á, các quy định pháp lý của nước sở tại và phân tích rủi ro, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược đàm phán hợp đồng cung ứng bền vững.

Thứ ba, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm đào tạo định hướng: Nguồn tư liệu chuẩn xác giúp các cơ sở đào tạo cập nhật chương trình giảng dạy, lồng ghép kỹ năng ngoại ngữ, văn hóa ứng xử và tác phong công nghiệp đáp ứng chuẩn mực tiếp nhận của đối tác.

Thứ tư, học viên cao học, sinh viên và các nhà nghiên cứu kinh tế quốc tế: Công trình là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng thị trường lao động, các lý thuyết di cư quốc tế và mô hình phân tích kinh tế đối ngoại.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao thị trường Đài Loan từng tạm dừng tiếp nhận nhóm lao động giúp việc gia đình của Việt Nam? Vào ngày 20/01/2005, Đài Loan tạm ngừng tiếp nhận lao động giúp việc gia đình và khán hộ công Việt Nam do tỷ lệ lao động tự ý bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp lên tới khoảng 9%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ gánh nặng chi phí môi giới cao và kỹ năng ứng xử chưa được đào tạo bài bản.

Chương trình cấp phép việc làm mới (EPS) của Hàn Quốc có ưu điểm gì so với chế độ tu nghiệp sinh? Chương trình EPS triển khai từ tháng 8/2004 là chương trình phi lợi nhuận do cơ quan nhà nước trực tiếp vận hành. Quy trình này loại bỏ hoàn toàn các khâu trung gian, giảm chi phí xuất cảnh xuống chỉ còn khoảng 654 USD và cho phép người lao động ký hợp đồng trực tiếp với chủ sử dụng.

Cơ cấu lao động Việt Nam sang khu vực Đông Bắc Á giai đoạn 1995-2005 có đặc điểm gì? Lao động Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông, chiếm hơn 80% tổng số lượng phái cử. Trong đó, nhóm ngành dịch vụ và giúp việc chiếm 122.834 người tại Đài Loan, còn nhóm ngành sản xuất công nghiệp chiếm 42.954 người tại Hàn Quốc, trong khi lao động kỹ thuật cao theo diện Thẻ vàng còn rất hạn chế.

Việt Nam có thể vận dụng bài học quản lý xuất khẩu lao động nào từ Philippines? Việt Nam có thể áp dụng mô hình phân tách chức năng rõ ràng giữa xúc tiến phát triển thị trường (POEA) và bảo vệ phúc lợi xã hội (OWWA). Đồng thời, việc xây dựng các quỹ chuyên trách hỗ trợ pháp lý và tài chính trị giá khoảng 4 triệu USD mỗi quỹ sẽ bảo vệ tối đa quyền lợi người lao động.

Mức lương cơ bản của lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan được quy định ra sao? Kể từ tháng 9/2001, mức lương cơ bản tối thiểu của lao động công nghiệp và xây dựng tại Đài Loan được ấn định ở mức 15.840 Đài tệ/tháng. Sau khi khấu trừ các khoản thuế và chi phí sinh hoạt, thu nhập ròng trung bình của người lao động dao động từ 300 đến 800 USD/tháng tùy từng lĩnh vực.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thị trường sức lao động quốc tế và phân công lao động toàn cầu trong điều kiện mở cửa kinh tế.
  • Khái quát bức tranh thực trạng phái cử lao động Việt Nam sang 3 thị trường lớn tại Đông Bắc Á giai đoạn 1995-2005 với quy mô hàng trăm nghìn lượt người.
  • Bóc tách những tồn tại cốt lõi về chất lượng tay nghề, rào cản ngoại ngữ, gánh nặng chi phí môi giới và tỷ lệ vi phạm hợp đồng.
  • Kiến nghị hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao từ cấp vĩ mô đến vi mô, hướng tới mục tiêu hiện đại hóa công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2006-2010.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội xuyên quốc gia và giải pháp đón đầu các hiệp định thương mại dịch vụ thế hệ mới. Toàn văn công trình là tài liệu học thuật và thực tiễn thiết thực dành cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nhân lực.