phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu lao động Chƣơng II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trƣờng Đông Bắc Á Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trƣờng Đông Bắc Á. Kính mong nhận đƣợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn đọc gần xa, giúp cho đề tài đƣợc hoàn thiện ở chất lƣợng cao hơn cũng nhƣ góp đƣợc tiếng nói vào việc mở rộng hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trƣờng Đông Bắc Á trong thời gian tới. Xin trân trọng cảm ơn! Ngƣời thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Trần Thị Thanh Trà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm và định nghĩa về xuất khẩu lao động: Nghiên cứu về vấn đề xuất khẩu lao động chúng ta phải hiểu và làm rõ một số khái niệm cơ bản sau: - Nguồn lao động: Là một bộ phận của dân cƣ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động (không kể số ngƣời mất khả năng lao động) và những ngƣời ngoài tuổi lao động thực tế có tham gia lao động.
- Lao động: Lao động thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tƣ liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con ngƣời. Có thể nói, lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. - Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con nguời trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con ngƣời, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. - Thị trƣờng lao động: Là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động đƣợc xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mƣớn sức lao động.
Trên thị trƣờng lao động, sức lao động đƣợc coi là hàng hoá và nó có đầy đủ cả giá trị và giá trị sử dung. Tuy nhiên, đây là hàng hóa đặc biệt vì con ngƣời có tƣ duy, tự làm chủ bản thân mình hay nói cách khác con ngƣời là chủ thể lao động. Thông qua thị trƣờng lao động, sức lao động đƣợc xác định giá cả, hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật của thị trƣờng. Trên thị trƣờng lao động, mối quan hệ đƣợc thiết lập giữa một bên là ngƣời lao động và một bên là ngƣời sử dụng lao động.
Qua đó cung cầu về lao động ảnh hƣởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ảnh hƣởng tới cung cầu lao động. - Di dân quốc tế: là một hiện tƣợng trong đó ngƣời lao động ở quốc gia này sang một quốc gia khác có kèm theo việc thay đổi chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau ở nƣớc ngoài. Khi thị trƣờng thế giới ngày càng mở rộng, việc di cƣ có cơ hội đƣợc thực hiện dễ dàng thông qua quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, các tổ chức kinh tế, di cƣ lao động quốc tế ngày càng trở thành hiện tƣợng phổ biến gắn với các hoạt động kinh tế xã hội của các quốc gia - Xuất khẩu lao động: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định đƣợc sự thống nhất giữa quốc gia đƣa và nhận ngƣời lao động. Nếu xét theo khía cạnh dân số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế.
Do đó, việc đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài chính là tham gia vào quá trình di dân quốc tế, nó không nằm ngoài những quy luật chung. Trên thực tế, hiện nay XKLĐ là quá trình mua bán sức lao động giữa các đối tác thuộc hai quốc gia khác nhau. Khi sức lao động đã trở thành hàng hoá thì sự chênh lệch giá cả của nó (tức là chênh lệch tiền lƣơng của những ngƣời lao động khác nhau ở các quốc gia khác nhau) sẽ là động lực thúc đẩy sức lao động di chuyển từ nƣớc này sang nƣớc khác. Cũng nhƣ mọi hàng hoá khác, sức lao động có giá trị và giá trị sử dụng, tuy nhiên cả hai đặc tính này của hàng hoá sức lao động đều là trừu tƣợng.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là khả năng thoả mãn một nhu cầu nào đó của ngƣời sử dụng lao động, nó chỉ có thể đƣợc biết khi ngƣời ta đã sử dụng nó, đó là trình độ, tay nghề, sức khoẻ và khả năng làm việc của ngƣời lao động. Nhƣ vậy xét về mặt này, hàng hoá sức lao động mang đặc trƣng của một hàng hoá dịch vụ. Giá trị của hàng hoá sức lao động đƣợc đo bằng giá trị của các tƣ liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống anh ta và gia đình anh ta, hay nói cách khác nó đƣợc đo bằng tiền công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đƣợc trả của ngƣời lao động. Nhƣ vậy, ở đâu hàng hoá sức lao động đƣợc trả công cao hơn (có khả năng mua đƣợc nhiều hàng hoá tiêu dùng hơn, hay nói cách khác tiền công thực tế cao hơn) thì ở đó thị trƣờng sẽ đƣợc cung ứng.
Hoạt động XKLĐ đƣợc tiến hành bởi nhiều mục đích và lý do khác nhau, có thể vì lý do kinh tế hoặc phi kinh tế. Tuy nhiên, lý do kinh tế vẫn là lý do chủ đạo thúc đẩy các quốc gia tiến hành hoạt động này. Đối với những nƣớc nhập khẩu lao động thông thƣờng là những nƣớc có nền kinh tế phát triển, sự tăng trƣởng kinh tế thƣờng kéo theo việc mở rộng sản xuất tuy nhiên nguồn lao động ở trong nƣớc lại không đáp ứng đƣợc các yêu cầu về số lƣợng hoặc chất lƣợng. Thêm vào đó, nền kinh tế phát triển cao nên ngƣời dân có cơ hội tiếp xúc với các ngành nghề phù hợp hơn, có mức thu nhập cao hơn.
Đời sống ngƣời dân đƣợc nâng cao do vậy họ không muốn lao động trong những ngành có công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm mà thu nhập lại thấp. Vì vậy, các quốc gia này sẽ có nhu cầu nhập khẩu lao động từ nƣớc ngoài vào làm việc. Ngƣợc lại đối với những nƣớc XKLĐ lại chủ yếu là những nƣớc nghèo, dân số đông lực lƣợng lao động dồi dào. Tuy nhiên, những nƣớc này lại có nền kinh tế kém phát triển, không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu việc làm cho hầu hết lực lƣợng lao động.
Điều này tất yếu sẽ dẫn tới một bộ phận lao động sẽ phải tìm kiếm việc làm ở nƣớc ngoài. Ngoài lý do về giải quyết việc làm XKLĐ còn mang lại cho quốc gia những lợi ích khác nhƣ tăng thu nguồn ngoại tệ, học hỏi các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, hiểu biết thêm về các nền văn hoá khác nhau, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ ngọai giao giữa các nƣớc…. Đặc điểm cơ bản của xuất khẩu lao động Sự phát triển không đồng đều về kinh tế, chính trị, xã hội, cũng nhƣ sự phân bố không đồng đều về tài nguyên giữa các quốc gia, dẫn đến hậu quả là sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, không một quốc gia nào có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đầy đủ và đồng bộ các yếu tố sản xuất. Để giải quyết tình trạng mất cân đối trên, trong tình trạng nền kinh tế thị trƣờng, tất yếu dẫn đến hình thành thị trƣờng quốc tế, trong đó có thị trƣờng lao động, một yếu tố đầu vào của sản xuất.
Do đó, XKLĐ đã trở thành hoạt động kinh tế quan trọng và phổ biến, mang tính xã hội hoá cao của nhiều nƣớc trên thế giới. Có thể nói hoạt động xuất khẩu lao động có những đặc điểm khác biệt rất lớn so với các hoạt động xuất khẩu các loại hàng hoá hữu hình khác. Thứ nhất: Xuất khẩu lao động là họat động không thể tách rời khỏi sự phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia. Đứng về khía cạnh kinh tế thì mục đích chủ yếu của các quốc gia thực hiện hoạt động này là mang lại một lợi ích kinh tế lớn hơn.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động XKLĐ đƣợc thực hiện chủ yếu dựa trên cơ sở cung cầu sức lao động. Sức lao động đƣợc coi là một loại hàng hoá đặc biệt, chịu sự tác động điều tiết của quy luật kinh tế thị trƣờng. Chất lƣợng lao động càng cao càng đem lại hiệu quả lớn và càng đƣợc thị trƣờng nƣớc ngoài chấp nhận. Chất lƣợng lao động cao thể hiện ở trình độ tay nghề phù hợp với công nghệ của nƣớc tiếp nhận lao động, thể lực tốt, có ngoại ngữ, đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức tác phong làm việc công nghiệp, am hiểu pháp luật và phong tục tập quán của nƣớc sử dụng lao động, thích ứng nhanh chóng với môi trƣờng lao động mới.
Về mặt xã hội, XKLĐ thực chất là việc xuất khẩu sức lao động không tách rời với ngƣời lao động, mà con ngƣời ngoài hoạt động kinh tế còn mang tính chất xã hội rất lớn, do vậy hoạt động này mang tính xã hội là điều tất yếu xảy ra. Thực tế cũng cho thấy XKLĐ có tác động lớn về mặt xã hội đối với cả nƣớc xuất khẩu và nƣớc nhập khẩu lao động. Vì vậy, trong các chính sách, pháp luật về XKLĐ phải kết hợp hài hoà với các chính sách xã hội có nhƣ vậy mới đảm bảo đƣợc quyền lợi của ngƣời lao động và các quốc gia khi tham gia hoạt động này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thứ hai: Xuất khẩu lao động có một cách hiểu khác đó là sự hợp tác sử dụng lao động giữa các đối tác với nhau, là sự di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ nƣớc dƣ thừa lao động sang nƣớc thiếu hụt lao động.
XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại. XKLĐ là hoạt động tất yếu khách quan trong quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các nƣớc trong sản xuất.