Tổng quan nghiên cứu
Xuất khẩu lao động là chiến lược kinh tế - xã hội quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, gia tăng nguồn thu ngoại tệ và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tại Malaysia, nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài liên tục duy trì ở mức cao với quy mô hơn 2.000.000 người đang làm việc và cần tuyển dụng khoảng 1.000.000 lao động mỗi năm từ các quốc gia thành viên ASEAN cùng khu vực Nam Á. Trước bối cảnh đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Công văn số 1672/LĐTBXH-QLLĐNN ngày 05/06/2002 chọn tỉnh Hải Dương làm địa phương thí điểm đưa lao động sang làm việc tại thị trường Malaysia.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng phần lớn lực lượng tham gia là lao động nông thôn (chiếm tới 87,60% năm 2002 và 89,57% năm 2003) với trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa qua đào tạo chiếm trên 86%. Sự hạn chế về tay nghề, rào cản ngoại ngữ và tác phong công nghiệp đặt ra thách thức lớn đối với công tác chuẩn bị nguồn nhân lực xuất khẩu. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị nhân lực xuất khẩu, phân tích thực trạng công tác tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo nghề và giáo dục định hướng tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2002 - 2004, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng nhân lực.
Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giải quyết việc làm cho 1,95 vạn đến 2,2 vạn lao động mỗi năm của tỉnh Hải Dương, hỗ trợ kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 7,10% năm 2002 xuống còn 6,97% năm 2003, đồng thời tạo tiền đề nhân rộng mô hình cung ứng sang các thị trường quốc tế trọng điểm khác.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản trị nhân lực hiện đại, trọng tâm là mô hình quản trị nguồn nhân lực của Nguyễn Hữu Thân về chu trình hoạch định, thu hút, đào tạo và phát triển nhân viên trong tổ chức. Đồng thời, luận văn kết hợp lý thuyết di cư lao động quốc tế qua 3 giai đoạn lịch sử phát triển, giải thích nguyên nhân dịch chuyển lao động xuất phát từ sự phân bố không đồng đều về tài nguyên, chênh lệch trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách mở cửa giữa các quốc gia.
Khung lý thuyết của đề tài tập trung làm rõ 4 khái niệm và quy trình nền tảng:
- Xuất khẩu lao động: Hoạt động đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng ký kết giữa các bên liên quan.
- Hoạch định và tuyển mộ nhân lực: Tiến trình phân tích môi trường bên trong, bên ngoài và thu hút nguồn ứng viên từ nội bộ địa phương hoặc các tỉnh lân cận.
- Tuyển chọn nhân lực: Quy trình sàng lọc 5 bước gồm tiếp nhận hồ sơ, sơ tuyển, trắc nghiệm năng lực, phỏng vấn chuyên sâu và ra quyết định tuyển chọn.
- Đào tạo nghề và giáo dục định hướng: Hoạt động trang bị kỹ năng thao tác máy móc, ngoại ngữ giao tiếp và nhận thức pháp luật của Việt Nam cũng như nước tiếp nhận trước khi xuất cảnh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2001 - 2003 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương, cùng dữ liệu hồ sơ thực tế tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 1.203 lao động tham gia chương trình xuất khẩu sang Malaysia tại Trung tâm trong giai đoạn từ tháng 07/2002 đến tháng 03/2004 (trong đó năm 2002 có 468 người, năm 2003 có 700 người và quý I/2004 có 35 người), kết hợp khảo sát đối chiếu với tổng số 2.641 lao động toàn tỉnh đã hoàn tất hồ sơ xuất cảnh.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm phản ánh toàn diện, chính xác mọi biến động về chất lượng và cơ cấu nhân lực tại đơn vị thí điểm mà không bị sai lệch do chọn mẫu ngẫu nhiên. Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ trọng cơ cấu phần trăm (%) và đối chiếu chuỗi thời gian giữa các giai đoạn. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm định lượng hóa rõ ràng sự cải thiện về chất lượng đào tạo, phân hóa trình độ học vấn đầu vào và đo lường mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao theo tiến độ đề án.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực chứng tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm tỉnh Hải Dương mang lại 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực đầu vào còn nhiều hạn chế về trình độ kỹ thuật và tập trung chủ yếu ở khu vực nông nghiệp nông thôn. Tỷ lệ lao động chưa có trình độ tay nghề chiếm tới 87,25% năm 2002 và 86,17% năm 2003. Lao động xuất thân từ nông thôn chiếm tỷ trọng áp đảo với 87,60% năm 2002 và tăng lên 89,57% năm 2003, trong khi khu vực thành thị chỉ chiếm từ 10,43% đến 12,40%. Về độ tuổi, nhóm từ 25 đến 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất, đạt 46,37% năm 2002 và 45,42% năm 2003.
Thứ hai, chất lượng đào tạo nghề có sự chuyển biến tích cực qua các năm. Tổng số học viên được đào tạo nghề tăng từ 144 người năm 2002 lên 373 người năm 2003. Tỷ lệ học viên đạt loại khá tăng từ 45,00% lên 52,00%, loại giỏi tăng từ 9,00% lên 13,00%, trong khi tỷ lệ xếp loại trung bình giảm mạnh từ 46,00% xuống còn 35,00%. Các ngành nghề đào tạo trọng điểm gồm cơ khí, hàn, dệt may, điện công nghiệp và xây dựng đều ghi nhận sự gia tăng về số lượng học viên đạt tiêu chuẩn.
Thứ ba, công tác đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng ghi nhận bước tiến rõ rệt về năng lực tiếp thu của người lao động. Đối với môn Tiếng Anh, tỷ lệ học viên đạt điểm khá giỏi tăng từ 68,00% năm 2002 (với 65% khá, 3% giỏi trên tổng số 470 học viên) lên 79,00% năm 2003 (với 71% khá, 8% giỏi trên tổng số 903 học viên), tỷ lệ trung bình giảm tương ứng từ 32,00% xuống 21,00%. Đối với nội dung giáo dục định hướng, tỷ lệ đạt loại khá tăng từ 69,00% lên 78,00%, loại giỏi duy trì ở mức 8,00% đến 12,00%.
Thứ tư, hiệu quả thu nhập của người lao động tại thị trường Malaysia có sự phân hóa mạnh theo ngành nghề. Lao động làm việc trong ngành nông nghiệp và giúp việc gia đình đạt thu nhập từ 350 đến 500 RM/tháng (tương đương khoảng 93 đến 132 USD/tháng). Trong khi đó, lao động ngành xây dựng và chế tạo có thể đạt từ 650 đến 1.200 RM/tháng (khoảng 171 đến 315 USD/tháng) nhờ điều kiện làm thêm giờ với mức lương tăng thêm từ 1,5 đến 2,0 lần theo luật định.
Thảo luận kết quả
Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện sự dịch chuyển chất lượng đào tạo giai đoạn 2002 - 2003 và bảng cơ cấu phân bổ ngành nghề của 1.203 lao động. Những chuyển biến tích cực trong kết quả đào tạo phản ánh nỗ lực chuẩn hóa chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy lý thuyết gắn liền thực hành của đơn vị.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân sâu xa của những bất cập tồn tại. Tình trạng khoảng 70% lao động từng có biểu hiện bỏ tiết, trốn học xuất phát từ nhận thức xem nhẹ việc học định hướng, chỉ mong muốn có chứng chỉ hợp thức hóa hồ sơ. Cơ sở vật chất của Trung tâm với 5 phòng học lý thuyết và 43 máy may công nghiệp thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải khi bố trí lớp học đông từ 50 đến 60 học viên. Khi so sánh với xu hướng cung ứng lao động của các quốc gia đang phát triển trong khu vực, việc thiếu hụt quy trình trắc nghiệm tâm lý và kiểm tra tay nghề thực hành trực tiếp ở khâu tuyển chọn là kẽ hở lớn dẫn đến tình trạng một số lao động không đáp ứng được yêu cầu của chủ sử dụng tại nước sở tại.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu sang Malaysia, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện và chuyên nghiệp hóa quy trình tuyển mộ, tuyển chọn ứng viên. Trung tâm Dịch vụ Việc làm cần bổ sung ngay các bài kiểm tra trắc nghiệm tâm lý, trắc nghiệm cá tính và thực hành kiểm tra kỹ năng nghề trực tiếp đối với 100% ứng viên có bằng nghề nhằm loại bỏ tình trạng chứng chỉ hình thức. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có tay nghề thực chất đầu vào lên trên 25% trong giai đoạn 2005 - 2006.
Thứ hai, tổ chức lại quy mô lớp học và hiện đại hóa cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Trung tâm cần điều chỉnh sĩ số từ 50 - 60 học viên xuống mức chuẩn 30 - 40 học viên/lớp, phân chia lớp theo đúng trình độ tiếp thu ngoại ngữ ban đầu. Đầu tư thêm trang thiết bị âm thanh, máy chiếu và bổ sung trang thiết bị thực hành kỹ thuật, đồng thời nâng cấp hệ thống ký túc xá với chi phí hợp lý để thu hút học viên ở xa lưu trú tập trung trước quý IV hàng năm.
Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và đổi mới chương trình giáo dục định hướng 46 tiết. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương cần định kỳ tổ chức tập huấn nghiệp vụ sư phạm, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cơ hữu có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên thay vì phụ thuộc vào giáo viên thời vụ. Chương trình 46 tiết (30 tiết chính khóa, 16 tiết ngoại khóa) cần tăng thời lượng rèn luyện kỹ năng nghe - nói và bổ sung các tình huống xử lý pháp luật lao động, an toàn lao động thực tế.
Thứ tư, mở rộng chính sách hỗ trợ tài chính và tăng cường liên kết quản lý nhà nước. Ngành Lao động phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương triển khai gói vay vốn ưu đãi từ Quỹ Quốc gia Giải quyết Việc làm cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, đồng thời duy trì chính sách miễn giảm 50% học phí đào tạo định hướng để tạo điều kiện tối đa cho người lao động xuất cảnh đúng kế hoạch.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban chỉ đạo Xuất khẩu lao động các tỉnh, thành phố): Sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng đề án hợp tác lao động quốc tế, quy hoạch mạng lưới cung ứng nhân lực và ban hành các chính sách hỗ trợ tín dụng việc làm tại địa phương.
- Các Trung tâm Dịch vụ Việc làm và doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động: Ứng dụng mô hình tuyển chọn 5 bước, bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn hóa và quy trình tổ chức lớp học giáo dục định hướng nhằm giảm thiểu tỷ lệ lao động bị trả về nước trước hạn.
- Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trường trung cấp nghề: Tham khảo khung chương trình đào tạo kết hợp mô phỏng xưởng thực hành và giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành may, cơ khí, hàn để nâng cao chất lượng tay nghề cho học viên.
- Học viên cao học, nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị nhân lực và Kinh tế lao động: Khai thác kho dữ liệu thực chứng giai đoạn thí điểm 2002 - 2004 để làm tài liệu đối sánh cho các công trình nghiên cứu về di cư lao động quốc tế và chuyển dịch cơ cấu việc làm nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tỉnh Hải Dương được chọn làm địa bàn thí điểm đưa lao động sang Malaysia năm 2002? Tỉnh Hải Dương sở hữu nguồn nhân lực dồi dào với dân số khoảng 1,8 triệu người, cơ cấu dân số trẻ và nền kinh tế tăng trưởng cao đạt 10,19% năm 2002. Địa phương có sẵn mạng lưới 6 trường dạy nghề và 4 Trung tâm Dịch vụ Việc làm, tạo nền tảng vững chắc để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giao thí điểm theo Công văn số 1672/LĐTBXH-QLLĐNN.
-
Thực trạng trình độ học vấn và tay nghề của lao động đăng ký đi Malaysia như thế nào? Số liệu thực tế tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hải Dương cho thấy phần lớn lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề, chiếm 87,25% năm 2002 và 86,17% năm 2003. Về trình độ văn hóa, người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm từ 63,76% đến 74,64%, tốt nghiệp trung học cơ sở chiếm từ 15,70% đến 23,71%, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đào tạo nghề trước xuất cảnh.
-
Chương trình giáo dục định hướng cho người lao động gồm những nội dung bắt buộc nào? Chương trình gồm 46 tiết (30 tiết chính khóa và 16 tiết ngoại khóa), bao gồm các nội dung trọng tâm: Hệ thống pháp luật Việt Nam và Malaysia, phong tục tập quán, điều kiện sinh hoạt, kỷ luật an toàn lao động, quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, thủ tục xuất nhập cảnh và kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cơ bản tại sân bay, nhà xưởng.
-
Hạn chế lớn nhất trong công tác đào tạo tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hải Dương là gì? Tồn tại lớn nhất là sĩ số lớp học ngoại ngữ quá đông (từ 50 đến 60 học viên/lớp) chưa phân loại theo trình độ ban đầu, cùng hiện tượng khoảng 70% lao động từng có biểu hiện bỏ tiết do nhận thức chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, việc sử dụng giáo viên thuê mùa vụ và cơ sở vật chất chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
-
Mức thu nhập và các nghĩa vụ tài chính của người lao động tại Malaysia được quy định ra sao? Người lao động ngành xây dựng và chế tạo có thể đạt thu nhập từ 171 đến 315 USD/tháng (khoảng 650 đến 1.200 RM/tháng) nếu làm thêm giờ. Về nghĩa vụ, người lao động phải đóng 9% lương vào quỹ dự phòng và nộp thuế hàng năm theo quy định của chính phủ sở tại (khoảng 95 USD/năm với nông nghiệp và 315 USD/năm với các ngành khác).
Kết luận
- Luận văn đã tổng kết toàn diện mô hình thí điểm xuất khẩu lao động sang Malaysia tại Hải Dương, ghi nhận 1.203 lao động được Trung tâm Dịch vụ Việc làm đào tạo và cung ứng trên tổng số 2.641 lao động toàn tỉnh đã xuất cảnh thành công.
- Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy trình tuyển mộ - tuyển chọn 5 bước kết hợp chặt chẽ với chương trình đào tạo nghề và giáo dục định hướng chuẩn 46 tiết.
- Làm rõ bước tiến chất lượng khi tỷ lệ học viên đạt loại khá giỏi trong đào tạo nghề tăng lên 65,00% và ngoại ngữ đạt 79,00% năm 2003, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về sĩ số lớp học và ý thức học viên.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về kiểm tra trắc nghiệm chuyên sâu, chuẩn hóa sĩ số 30 - 40 học viên/lớp, nâng cao năng lực giáo viên cơ hữu và hỗ trợ vốn vay tín dụng.
- Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá mức độ thích ứng công việc và hiệu quả tích lũy tài chính của người lao động sau khi hoàn thành hợp đồng về nước.
Các cơ quan quản lý và đơn vị đào tạo nhân lực cần sớm áp dụng các giải pháp trong luận văn theo từng chu kỳ quý để tối ưu hóa chất lượng nguồn lao động xuất khẩu trong giai đoạn tiếp theo.