Tác động của yếu tố ngành xuất khẩu đến đời sống lao động của người dân Việt Nam

Tiểu luận phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển lao động của người cao tuổi tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Xuất khẩu lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

70
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tác động của ngành xuất khẩu đến đời sống lao động

Ngành xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống lao động của người dân Việt Nam. Theo thống kê, số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã tăng đáng kể trong những năm qua, cho thấy sự phát triển của ngành xuất khẩu. Việc tham gia vào thị trường lao động quốc tế không chỉ giúp người lao động có cơ hội kiếm thu nhập cao hơn mà còn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Điều này góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, tạo ra nguồn thu ngoại tệ và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhiều gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích, người lao động cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như rủi ro bị lừa đảo, điều kiện làm việc không đảm bảo và thiếu thông tin về thị trường lao động nước ngoài.

1.1. Tác động kinh tế

Ngành xuất khẩu lao động không chỉ tạo ra thu nhập cho người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Theo báo cáo, thu nhập từ xuất khẩu lao động đã giúp nhiều gia đình thoát nghèo và cải thiện đời sống. Việc tăng cường xuất khẩu hàng hóa và lao động cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong nước, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nước đã được triển khai mạnh mẽ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động. Tuy nhiên, cần có những biện pháp bảo vệ quyền lợi cho người lao động, tránh tình trạng bị lừa đảo và đảm bảo họ có được môi trường làm việc an toàn và công bằng.

1.2. Tác động xã hội

Sự phát triển của ngành xuất khẩu lao động đã tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội. Người lao động không chỉ có cơ hội kiếm tiền mà còn có thể học hỏi và tiếp thu những kỹ năng mới từ nước ngoài. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống của họ mà còn góp phần vào sự phát triển của cộng đồng. Tuy nhiên, sự di cư lao động cũng tạo ra những thách thức như sự phân tán gia đình, ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của trẻ em. Cần có những chính sách hỗ trợ cho người lao động và gia đình họ để đảm bảo sự ổn định xã hội và phát triển bền vững.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến dự định xuất khẩu lao động

Nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dự định xuất khẩu lao động của người dân Việt Nam. Trong đó, điều kiện làm việcchính sách xuất khẩu là hai yếu tố quan trọng nhất. Người lao động thường xem xét kỹ lưỡng về mức lương, điều kiện sinh hoạt và an toàn khi quyết định đi làm việc ở nước ngoài. Ngoài ra, sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyết định này. Các chương trình đào tạo nghề và thông tin về thị trường lao động cũng cần được cải thiện để giúp người lao động có cái nhìn rõ hơn về cơ hội việc làm.

2.1. Yếu tố kinh tế

Mức thu nhập cao từ xuất khẩu lao động là yếu tố chính thúc đẩy người lao động quyết định đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều người cho rằng, việc làm ở nước ngoài không chỉ mang lại thu nhập cao mà còn giúp họ tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng. Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội tiếp cận với thông tin và các chương trình đào tạo nghề phù hợp. Do đó, cần có những chính sách hỗ trợ để người lao động có thể dễ dàng tiếp cận với các cơ hội việc làm tốt hơn.

2.2. Yếu tố xã hội

Sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng có ảnh hưởng lớn đến quyết định xuất khẩu lao động. Nhiều người lao động cho biết họ cảm thấy tự tin hơn khi có sự động viên từ người thân và bạn bè. Ngoài ra, các chương trình tuyên truyền và giáo dục về lợi ích của xuất khẩu lao động cũng cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức của người dân. Việc tạo ra một môi trường xã hội tích cực sẽ giúp người lao động có thêm động lực để tham gia vào thị trường lao động quốc tế.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tên đề tài: Những yếu tố ảnh hưởng đến dự định XKLĐ của người Việt Nam. Giới thiệu lý do ch ọn đề tài: 2.1 Thực trạng: Hình 1: Số lượng ngườ i đi XKLĐ từ năm 2014 đến 2019 Theo báo Kinh tế và Đô thị, số liệu thống kê năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 147.387 lao động (trong đó có 49.324 lao động nữ) đạt 122,8% kế hoạch năm 2019, (kế hoạch đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2019 là 120.000 lao động), bằng 103,2% so với cả năm 2018 (năm 2018 tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 142.860 lao động) trong đó thị trường: Nhật Bản: 80.948 lao động nữ), Đài Loan: 54.287 lao động nữ), Hàn Quốc: 7.215 lao động (514 lao động nữ), Rumania: 1.400 lao động (41 lao động nữ), Ả rập Trang 11 - Xê út: 1.062 lao động nữ), Malaysia: 454 lao động (138 lao động nữ), Macao: 367 lao động (224 lao động nữ), Algeria: 359 lao động nam và các thị trường khác. Như vậy, năm 2019 là năm thứ sáu liên tiếp số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 lao động/năm và là năm thứ tư liên tiếp vượt mức 120.751 lao động và năm 2018: 142.

Theo báo Tiền phong tình trạng người lao động bị các công ty mô giới lừa đảo cũng diễn ra phổ biến. Tính đến 31/12/2019, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 217 vụ án liên quan lĩnh vực xuất khẩu lao động (XKLĐ), trong đó có 132 vụ hình sự, 80 vụ tranh chấp dân sự và 7 vụ tranh chấp lao động. Bên cạnh đó, tình trạng XKLĐ trái phép có xu hướng tăng lên. Đặc biệt là vụ 39 người chết do XKLĐ trái phép qua Anh ngày 26/10/2019.2 Tính cấp thiết: Theo báo Thanh niên, cả nước có 30,8 triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19.

Lần đầu tiên thu nhập của người lao động giảm 5,1% trong vòng 5 năm qua; lực lượng lao động giảm sâu kỷ lục - trên 2 triệu người và có 1,4 triệu người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm. Đây là những con số được T ổng cục Thống kê (Bộ KH-ĐT) công bố tại cuộc họp báo sáng 10.7 về tình hình lao động việc làm quý 2 và 6 tháng đầu năm 2020. Theo bà Vũ Thị Thu Thủy, Vụ trưởng Vụ Thống kê Dân số và lao động (Tổng cục Thống kê), dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc T. Tính đến tháng 6, cả nước có 30,8 triệu ngườ i từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, bao gồm những người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập… Ảnh hưởng do giảm thu nhập chiếm tỷ trọng cao nhất với 57,3% tổng số người bị ảnh hưởng (tương ứng 17,6 triệu người).

Trong tổng số 30,8 triệu người bị ảnh hưởng, có 28,7 triệu người có việc làm; 897.500 người thất nghiệp và 1,2 triệu người nằm ngoài lực lượng lao động. Bà Thủy cho biết: “Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 72,0% lao động bị ảnh hưởng, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 67,8% Trang 12 lao động bị ảnh hưởng; tỷ lệ lao động bị ảnh hưởng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 25,1%”. Đáng chú ý, theo báo Thời nay thị trường Hàn Quốc đang có những tín hiệu tích cực trong việc mở rộng nhu cầu đón LĐ nước ngoài. Cụ thể ngày 9-4-2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP cho phép B ộ LĐ-TB&XH tiếp tục hướng dẫn các địa phương thực hiện thí điểm “Chương trình lao động thời vụ Hàn Quốc” theo thỏa thuận hợp tác giữa các địa phương của hai nước.

Thị trường Nhật Bản cũng đang có nhu cầu cao về tiếp nhận LĐ Việt Nam, tập trung ở các lĩnh vực: Nông nghiệp, chăm sóc người cao tuổi, chế biến suất ăn, thực phẩm. Từ ngày 29-7, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam đã tiếp nhận hồ sơ xin cấp mới visa cho công dân Việt Nam. Theo đó, người mang quốc tịch Việt Nam sinh sống trong nước, sử dụng chuyến bay thẳng giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ được cấp visa vào Nhật Bản với mục đích LĐ, lưu trú dài hạn. Đây là cơ hội tốt để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động.3 Tính khả thi của đề tài: Để xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công ăn việc làm cho người dân, ngoài các biện pháp giải quyết việc làm trong nước thì xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một kênh giải quyết việc làm hữu hiệu, đặc biệt là trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đất nước.

Vậy nên, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì XKLĐ là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. [*] Lợi ích từ nguồn thu nhập cao từ hoạt đông xuất khẩu lao động của người xuất khẩu đã góp phần cải thiện đời sống gia đình và thân nhân họ, giúp nhiều gia đình trở nên khá giả, nhiều lao động sau khi về nước đã trở thành các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp, tạo việc làm cho một bộ lao động khác, đóng góp vào sự phát triển và ổn định xã hội, XKLĐ được tạo điều kiện, cũng như là hỗ trợ từ phía nhà nước, vì XKLĐ đã giúp nhà nước tạo công việc cho người dân, làm giảm tình trạng thấp nghiệp cũng như là cải thiện đời sống Hiện nay, XKLĐ không còn quá xa lạ với mọi người bà con nhu cầu tham gia XKLĐ của người lao động ngày càng nhiều, thị trường XKLĐ cũng được mở rộng nhiều nước, đa dạng các ngành nghề với các hình thức XKLĐ khác nhau và XKLĐ cũng là một biện pháp tốt để giải quyết Trang 13 vấn đề thiếu việc làm của người lao động Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người lao động có dự định đi XKLĐ nhưng họ vẫn chưa đi. Để giải quyết vấn đề trên chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài những yếu tố ảnh hưởng tới dự định đi XKLĐ của người Việt Nam để giúp cho các Ban Ngành có những định hướng cụ thể cũng như lên kế hoạch để thúc đẩy dự định XKLĐ của người dân Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu: - Những yếu tố ảnh hưởng tới dự định XKLĐ của người Việt Nam? - Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới dự định XKLĐ của người Việt Nam? 4. Mục tiêu nghiên cứu: 4.Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới dự dịnh xuất khẩu lao động của người Việt Nam từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy XKLĐ nhằm giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập cho người dân Việt Nam.Mục tiêu cụ thể: ▪ Xác định xem những yếu tố ảnh hưởng đến dự định XKLĐ của người Việt Nam. Đánh giá từng yếu tố ảnh hưởng đến dự định XKLĐ để chọn ra yếu tố có tác động mạnh nhất. ▪ Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy dự định xuất khẩu lao động thành hoạt động XKLĐ của nước ta trong thời gian tới.

Căn cứ vào các lý luận cơ bản về những yếu tố ảnh hưởng đến sự dự định xuất khẩu lao động, từ đó đánh giá hoạt động xuất khẩu lao động của người Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu: Những người lao động Việt Nam có dự định XKLĐ ở độ tuổi từ 16 tuổi tới 50 tuổi, đi XKLĐ theo hợp đồng của các công ty doanh nghiệp từ 3 tới 5 năm với các ngành nghề như chăm sóc người cao tuổi; chế biến thực phẩm, thủy sản; nông nghiệp; dệt may;. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tập trung vào các nghiên cứu trước và bảng trả lời của người được khảo sát trên Google Form. Trang 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.

Cơ sở lý thuyết của đề tài 1. Khái niệm lao động. Lao động: Là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của bản thân. Lao động còn là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất.

Lao động là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất. Khái niệm sức lao động Sức lao động: Là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất. Theo kinh tế chính trị Mac-xit. Mac đã định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một người đang sống và đêm ra vận dụng mỗi khi sản xuất và tạo ra thặng dư 1.

Khái niệm giá cả lao động Giá cả lao động ( giá cả của hàng hóa sức lao động): Là toàn bộ số tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động phù hợp với sức lực, trí tuệ, tinh thần mà người đó cống hiến trong quá trình sản xuất hàng hóa. Đây là khoản tiền được sự đồng thuận giữa người sử dụng lao động và lao động đã kí kết. Hình 2: Sự tương tác giữa cung và cầu dựa trên lương và số lao động ( Nguồn: Chiến lược sống) 1. Khái niệm người lao động Trang 15 Một cách cụ thể, Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 định nghĩa: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.

Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ 15 trở lên. Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối vói ưmootj số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuê người lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng điều kiện nhất định. Khái niệm xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động ( Export of Labour): Được hiểu là công việc đưa người lao động từ nước sở tại đi lao động tại nước có nhu cầu thuê mướn lao động. Trên thế giới, nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển không đều nhau, do những đặc điểm về địa lí, văn hóa, lịch sử,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của yếu tố ngành xuất khẩu đến đời sống lao động của người dân Việt Nam" phân tích mối liên hệ giữa ngành xuất khẩu và đời sống của người lao động tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng sự phát triển của ngành xuất khẩu không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân thông qua việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập. Bài viết cũng đề cập đến những thách thức mà người lao động phải đối mặt, như điều kiện làm việc và sự biến động của thị trường xuất khẩu.

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, bạn có thể tham khảo bài viết "Phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam". Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến tác động của nợ công đối với nền kinh tế, hãy đọc bài viết "Tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam". Cuối cùng, để có cái nhìn sâu sắc hơn về mô hình kinh tế, bài viết "Mô hình cân đối liên ngành trong việc xác định các ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam" sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống lao động trong bối cảnh kinh tế hiện nay.