MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ và tác động đến mọi quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm lĩnh vực, ngành và nền kinh tế. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng hội nhập mở cửa nền kinh tế với những thành tựu nổi bật, đặc biệt là về xuất khẩu. Chúng ta đã xác định những mặt hàng chủ lực mũi nhọn để xúc tiến như dệt may, cà phê, gạo, gỗ và các sản phẩm từ gỗ,.
Trong đó mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Kể từ năm 2005, ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam bắt đầu gia nhập câu lạc bộ xuất khẩu 1 tỷ USD với việc xuất khẩu sản phẩm đến 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.Đến năm 2020, sau 15 năm phát triểnngành đã có sự bứt phá mạnh mẽ. Năm 2018, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới, thứ 2 châu Á, đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và lâm sản với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 9 tỷ USD, mở rộng đến hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu đã tăng dần qua các năm với tốc độ tăng trưởng đáng kể, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành nông nghiệp và đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Vì vậy, ngành sản xuất gỗ và sản phẩm từ gỗđã được coi là một trong những ngành sản xuất chính của nền công nghiệp Việt Nam với thành quả với vị trí đứng đầu ASEAN, đứng thứ hai châu Á và đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu gỗ và rừng trồng. Không chỉ gia tăng về số lượng, các sản phẩm đã dần được cải thiện về mẫu mã, chất lượng, thiết kế, được các thị trường dù là khó tính nhất đón nhận. Một số thị trường lớn nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam có thể kể đến như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản chiếm hơn 70% tổng sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó Nhật Bản là thị trường xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau Hoa Kỳ.
Đây là một quốc gia có nền kinh tế phát triển trong khu vực châu Á và toàn thế giới, xã hội ổn định với dân số có nhu cầu và sức mua lớn nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên lại hạn hẹp và khó khăn. Điều đó 2 khiến cho Nhật Bản phải gia tăng nhập khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ từ các nước bên ngoài, trong đó có Việt Nam. Vì vậy đây là một thị trường tiềm năng rất lớn trong cả hiện tại và tương lại, mang lại nhiều triển vọng phát triển không chỉ cho riêng Việt Nam mà còn cho tất cả các quốc gia xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) và hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức có hiệu lực ngày 30/12/2018.
Đối với Việt Nam, hiệp định có hiệu lực từ ngày 14/01/2019 vừa qua đã mở ra những cơ hội lớn cho ngành gỗ Việt Nam. Với những cam kết cắt giảm các dòng thuế nhập khẩu tập trung vào các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như gỗ và các sản phẩm từ gỗ sẽ giúp các sản phẩm của Việt Nam tiếp tục thâm nhập sâu hơn vào thị trường Nhật Bản, có nhiều điều kiện cạnh tranh với nguồn cung sản phẩm gỗ lớn nhất tại Nhật Bản là Trung Quốc khi chúng ta mới đang chỉ xếp hạng thứ hai. Đồng thời những cam kết của hiệp định CPTPP sẽ mang đến cho ngành gỗ của Việt Nam những thị trường triển vọng với tiềm năng xuất khẩu rất lớn như Mexico, Canada,. tạo ra những cú hích lớn trong hoạt động xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam.
Tuy nhiên, xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam hiện nay còn tổn tại những hạn chế nhất định. Cụ thể là xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiềm năng tuy lớn nhưng sức ép cạnh tranh đang ngày càng gia tăng, đặc biệt từ phía Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia…Chất lượng và mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn hạn chế, chưa thật phong phú, đa dạng. Nhiều năm qua, ngành chế biến gỗ, lâm sản mặc dù phát triển nhanh nhưng không bền vững. Tăng trưởng của ngành này chủ yếu dựa vào xuất khẩu nhưng phần lớn lại chỉ là gia công, phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng và thiết kế mẫu mã từ khách hàng nước ngoài.Hầu hết các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, siêu nhỏ như hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, làng nghề… thường có công nghệ thiết bị lạc hậu, khả năng quản lý hạn chế, thiếu chiến lược kinh doanh…Thiếu nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp và ổn định.Vấn đề truy xuất nguồn gốc gỗ gây nên những vướng mắc lớn cho doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ hiện nay còn thấp, tính hợp tác và liên kết lỏng lẻo. 3 Vì vậy, đứng trên giác độ quốc gia và nhà nước Việt Nam để tăng cường năng lực xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ Việt Nam sang thị trƣờng Nhật Bản trong bối cảnh thực thi CPTPP”là đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hoạt động xuất khẩuvà làm rõ thực trạng hoạt động xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bảntrong bối cảnh thực thi CPTPP. Từ đó đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuát khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ sang thị trường Nhật Bản đến năm 2025.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng hóa và những vấn đề chung về CPTPP; - Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh thực thi CPTPP; - Đề xuất định hướng, giải pháp và kiến nghị đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đến năm 2025 trong bối cảnh thực thi CPTPP. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam trong bối cảnh thực thi CPTPP. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật BảnBản trong bối cảnh thực thi CPTPP (giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019)và đề xuất phương hướng, giải pháp đến năm 2025.Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: -Phân tích thông tin và số liệu thứ cấp từ các nguồn dữ liệu sơ cấp; - Phương pháp so sánh và tổng hợp; 4 - Phương pháp diễn dịch và quy nạp.Kết cấu Luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của bài luận văn được chia thành 3 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa và những vấn đề chung về CPTPP; Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗViệt Nam sang thị trường Nhật Bản trong bối cảnh thực thi CPTPP; Chương 3: Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đến năm 2025. 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GỖ VÀ CÁC SẢN PHẨM VỀ GỖ VÀ HIỆP ĐỊNH CPTPP 1.
Những vấn đề chung về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ 1. Đặc điểm ngành gỗ và các sản phẩm từ gỗ Nghề sản xuất và chế biến đồ gỗ đã được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta. Đây là ngành nghề có truyền thống đã hàng trăm ngàn năm, gắn liền với tên nhiều làng nghề, phố nghề, được biểu hiện qua nhiều sản phẩm tinh xảo và hoàn mỹ. Quá trình phát triển của các sản phẩm đồ gỗ truyền thống luôn gắn với những thăng trầm trong lịch sử của xã hội Việt Nam.
Những kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được đúc rút, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác làm cho ngành nghề này ngày càng phong phú, đa dạng. Do vậy, nó đã phát triển và đúc kết được những tinh hoa truyền thống của dân tộc. Về công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam hiện đang phân theo 4 cấp độ: nhóm các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp lớn và vừa sản xuất sản phẩm xuất khẩu, nhóm các doanh nghiệp sản xuất ván nhân tạo, nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ mỹ nghệ. Nhìn chung trong thời gian qua các doanh nghiệp chế biến gỗ đã có một số nỗ lực trong cải tiến công nghệ sử dụng trong chế biến gỗ.
Nhiều công nghệ mới, hiện đại như công nghệ xử lý biến tính gỗ, tạo các vật liệu composite gỗ cũng đã được đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, những công nghệ này cần mức đầu tư tương đối lớn, vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Một đặc thù của ngành đồ gỗ Việt Nam là phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, mỗi năm phải nhập khẩu trên 80% gỗ nguyên liệu từ nước ngoài, chiếm tới 37% trong giá thành sản phẩm. Nguồn nguyên liệu gỗ ngày càng trở nên khan hiếm và đang tăng giá đang là một khó khăn rất lớn cho các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ.
Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, còn các nhà đầu tư trong nước thì mạnh 6 dạn mở rộng sản xuất với quy mô lớn, nên hoạt động đầu tư trong lĩnh vực sản xuất và chế biến gỗ xuất khẩu ngày càng tăng nhanh. Hiện nay, nước ta dự tính có khoảng 3.500 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó có trên 400 doanh nghiệp đang sản xuất hàng xuất khẩu, 340 làng nghề gỗ và số lượng lớn các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ chưa được thống kê.