CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HƯƠNG NHANG 1. KHÁI QUÁT VỀ HƯƠNG NHANG 1. Nguồn gốc của hương nhang Đối với người châu Á, đặc biệt là tín đồ Phật giáo và Đạo giáo thì việc thắp hương nhang đã trở thành một nét văn hóa rất đặc trưng trong các dịp lễ, thăm viếng chùa chiềng hay đơn giản là thắp nhang tổ tiên mỗi ngày. Có nhiều loại hương nhang với sự đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích cỡ và mùi hương để sử dụng cho từng mục đích riêng.
Hương nhang không chỉ có ở dạng những que nhang thẳng, mà còn có dạng xoắn ốc, hình nón, với kích thước to, nhỏ khác nhau cả về đường kính lẫn chiều dài, tùy thuộc theo mục đích sử dụng. Trong y học cổ truyền, hương nhang có thể được sử dụng để chữa bệnh. Thời hiện đại, nhiều người thắp nhang chỉ để thư giãn và thưởng thức mùi thơm của chúng. Vậy có bao giờ bạn tự hỏi hương nhang có nguồn gốc từ đâu? Mặc dù thắp nhang là phong tục của rất nhiều tôn giáo khác nhau tại châu Á, theo các ghi chép lịch sử, hương nhang được phát minh bởi người Ai Cập từ khoảng 3.
Người Ai Cập đã dùng hương nhang không những để chữa bệnh mà còn để tôn thờ thần linh, xua đổi tà ma. Trong Ebers Papyrus - một loại giấy cói y học tổng hợp tất cả các loại thảo dược của người Ai Cập xưa đã có đề cập đến cách mà họ tạo ra hương nhang, cầm theo bó rồi đốt cháy. Trên thực tế nghiên cứu cho thấy ngay cả người Babylon và Hy Lạp cũng có nghi thức thắp hương nhang để xua đổi tà ma và cầu bình an. Các nhà nghiên cứu còn phát hiện bằng chứng khảo cổ với các đốt hương nhang được tìm thấy trong Văn minh lưu vực sông Ấn có niên đại khoảng 3.
Các nhà sử học đã tìm thấy vết tích một loại dầu được cho là để tăng mùi thơm của hương nhang. Sau đó, người Ấn Độ kết hợp thêm các thảo mộc địa cùng với nhũ hương và cây bách để tạo ra một loại hương nhang cho riêng họ. Tự hỏi nén hương nhang đã du nhập tới các quốc gia Châu Á như thế nào? Tục thắp hương nhang đã xuất hiện tại Trung Quốc cách đây khoảng 2.000 năm về trước và trở nên phổ biến trong các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu. Đến 4 thời nhà Tống, thắp nhang đã trở thành một phần văn hóa không thể thiếu tại Trung Quốc.
Các quý tộc còn xây dựng một căn phòng riêng chỉ dùng cho mục đích thưởng thức mùi thơm của hương nhang. Chưa có kết luận chính xác rằng hương nhang đã du nhập đến Trung Quốc như thế nào. Nhiều giả thuyết cho rằng Con đường Tơ lụa đã mang nén nhang đến với Trung Quốc, theo đó các thương nhân Ả Rập đã ảnh hưởng đến người Trung Quốc trong việc sản xuất hương nhang. Nối tiếp Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng xuất hiện các tập tục thắp nhang.
Các nhà sư đạo Phật tiến hành thắp nhang sau đó giới thiệu cho người dân địa phương. Người Hàn Quốc thắp nhang trong nghi thức rửa tội, quý tộc lại đốt nhang để giải trí, thư dãn. Việc thắp hương nhang cũng đã trở thành một phần văn hóa của Nhật Bản từ thời kỳ Muromachi thế kỷ XV. Thời gian trôi qua, các cuộc di cư của người Hoa đã mang theo phong tục thắp hương nhang đến nhiều quốc gia Đông Nam Á.
Tại Việt Nam, thắp hương nhang đã trở thành tập quán không thể thiếu trong các ngày lễ hội như ngày rằm, lễ, tết, những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám cưới, … dùng để cúng bái tổ tiên, Phật Bà Quan Âm, chư vị Phật, Táo Quân,… Với lịch sử tồn tại từ nghìn năm, hương nhang đã đi sâu vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như là một nét đẹp truyền thống, gần gũi và vô cùng trang nghiêm. Công dụng của hương nhang trong tín ngưỡng tôn giáo Nén nhang là một biểu tượng rất thiêng liêng của thế giới tâm linh, đó cũng là một nét đẹp sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhiều tín đồ Phật giáo, Đạo giáo. Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu hết tất cả mọi người dân Châu Á đều biết đến cho dù ở bất kể lứa tuổi nào và đang sống ở nơi đâu. Vậy hương nhang có ý nghĩa như thế nào trong tín ngưỡng tôn giáo? Người phương Đông coi nén nhang là một biểu tượng kết giới âm dương rất thiêng liêng giữa cõi trần thế và tâm linh.
Khói và hương thơm của hương nhang được coi là chiếc “chìa khóa” mở ra cánh cửa tâm linh. Dù không hề mê tín dị đoán nhưng 5 những người con Châu Á luôn tin rằng thi một nén hương nhang được đốt lên thì đó chính là cây cầu bắc ngang hai thế giới vô hình. Từ xưa, nén nhang đã đi sâu vào trong tín ngưỡng của người phương Đông. Tại những ngôi chùa Phật giáo, những nghi lễ thờ kính tổ tiên, thần linh,.
thì nén nhang luôn được thắp lên với mong muốn cầu được hạnh phúc, may mắn, sức khỏe và bình an. Mọi người thắp hương nhang với rất nhiều mục đích. Có những nguyện vọng, mong muốn bất kể điều gì trong cuộc sống, sức khỏe, may mắn, thành đạt, tài lộc,. hay họ muốn thanh minh, xám hối khi họ làm điều gì có lỗi, sai trái,.
họ đều dùng hương nhang làm cây cầu nối liền suy nghĩ của mình tới “tai” của các vị thần linh để có sự thanh thản, bình an trong tâm hồn. Hương nhang quả thực có giá trị tín ngưỡng rất thiêng liêng, và dường như không thể gạt bỏ nét văn hóa ấy đối với các quốc gia theo Phật giáo, Đạo giáo. Nó đã trở thành thói quen không thể thiếu, là một phần trong văn hóa của con người. Bất kể vì mục đích gì, trước khi tới chùa chiền, lễ hội, trước khi thờ cúng tổ tiên, thần linh, thì họ luôn nghĩ tới việc thắp lên những nén hương nhang.
Từ thế hệ này qua thế hệ khác, việc thắp hương bái Phật trong các ngôi đền, chùa được tin rằng để bày tỏ lòng thành kính giống như một mối liên kết tâm linh giữa con người với Đức Phật, thần linh. Lại có một giải thích khác cho rằng, việc thắp hương nhang lại như một sự hy sinh vì tín ngưỡng. Một nén nhang được thắp lên rồi từ từ lụi tàn cũng giống như sự hy sinh để mang lại cho mọi người một tâm hồn bình yên. Việc này cũng giống như các tín đồ tôn giáo năm xưa đã nguyện hy sinh bản thân để đổi lấy sự an yên cho người khác.
Theo quan niệm Phật giáo, lòng thành của tín đồ được thể hiện qua làn khói hương nghi ngút, không cần cỗ bàn yến tiếc tiệc sa hoa tráng lệ. Do vậy trong kinh Phật mới có bài kệ: ‘’Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương.’’ Đạo lý thắp hương nhang đã du nhập vào Việt Nam từ hàng nghìn năm trước và giờ đây Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ngày nay. Ba nén nhang trong Phật giáo tượng trưng cho Tam bảo (Phật – Pháp – Tăng); Tam thời (Quá khứ – Hiện tại – Vị lai). Do đó, mỗi một nén nhang cháy đến lúc cuộn tàn biểu trưng cho một vòng đời người từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến khi về với cát bụi.
6 Không chỉ Phật giáo, tại các quốc gia phương Tây, Thiên Chúa giáo cũng dùng hương trong các ngày lễ của mình. Người Thiên Chúa giáo xông hương trong các thánh lễ, trước bàn thờ, trước cuốn Kinh Thánh, mình Thánh, rượu Thánh và cả linh cửu của người đã mất. Những tôn giáo khác như Ấn Độ giáo (Hinduism) thì lại dùng hương để thư giãn và tập trung hơi thở lúc ngồi Thiền. Trong khi đó, đạo Phù Thủy (Wiccanism) dùng hương để trở về với sức sống thiên nhiên và cảm thông với các vị nữ thần như Aphrodite.
Trái lại, theo đạo Khổng (Confucianism) thì khói hương tượng trưng cho Đại Trượng Phu - chí khí ngút trời, chỉ bay lên chứ không bao giờ hạ xuống,… 1. Sản xuất hương nhang Mỗi nén hương, nhang được thắp lên là thể hiện lòng tôn kính của mỗi người đối với tổ tiên, ẩn chứa trong đó một niềm tin bất diệt trong tín ngưỡng truyền thống văn hóa dân tộc. Để làm ra được những cây hương nhang ấy, nguyên liệu chính và quy trình cơ bản cần có gồm: Cây tre đủ loại, dùng để chẻ ra làm chân nhang. Trên thực tế, chân nhang được làm từ cây vầu (hay tre vầu) - một loại cây có họ hàng với tre, nứa.
Người ta chẻ thân vầu thành các mảnh nhỏ hơn, chỉ khoảng 1.5cm, sau đó đem phơi khô để dùng máy sản xuất ra những que tăm tròn với đường kính 1.3mm dùng làm chân nhang. Bột vỏ cây bời lời là một trong những thành phần không thể thiếu để làm hương nhang, do trong vỏ cây này có chất tạo kết dính như keo, nên còn được gọi là bột keo. Cây bời lời được phân bố chủ yếu ở các quốc gia nhiệt đới như miền nam Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines, Úc. Tùy vào từng loại hương nhang mà người làm hương đưa ra các tỉ lệ khác nhau đối với từng sản phẩm.
Thí dụ đối với dòng hương vòng do không có lõi tăm tre nên tỉ lệ bột bời lời sẽ nhiều hơn, với mục đích giữ chắc kết dính khoanh hương tròn. Đối với dòng hương nhang que có lõi tăm tre thì việc thay đổi linh hoạt tỉ lệ bột keo bời lời sẽ dễ dàng hơn. Còn với hương nụ thì chỉ nhằm tạo cho các nụ nhang có các hình thù đa dạng khác nhau. 7 Các loại bột gỗ như: bột gỗ trầm, bạch đàn, quế, bách, ….
và các loại cây cỏ thảo mộc. Các mảnh nguyên liệu được xay, nghiền nhỏ thành bộ, ray thật mịn và trộn với bột lời lời cùng với nước theo một tỉ lệ nhất định tùy vào mục đích sử dụng. Sau khi đã có hỗn hợp bột trộn thật đều, chúng được đưa vào máy làm nhang chuyên dụng để sản xuất ra các loại nhang khác nhau theo các công thức riêng của từng loại. Hương nhang thành phẩm được để khô tự nhiên, hút ẩm, kiểm tra lại và được đóng gói theo nhiều số lượng khác nhau.
Qua đây có thể thấy quy trình để sản xuất ra những cây hương nhang sạch, không hề có hóa chất, thân thiện với môi trường. Xuất khẩu hương nhang Hương nhang tên tiếng anh là “Incense Stick” hoặc “Agarbatti” có Mã HS là 33074100, thuế Xuất khẩu tại Việt Nam là 0%.