Chương I: Cơ sở lý luận về rào cản phi thuế quan trong thƣơng mại quốc tế Chương II: Phân tích tình hình xuất khẩu và thực trạng Việt Nam đáp ứng rào cản phi thuế quan của Mỹ đối với gỗ và sản phẩm đồ gỗ. Chương IV: Đề xuất giải pháp vƣợt rào cản phi thuế quan đối với các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 9 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ. Khái quát chung về rào cản phi thuế quan trong thƣơng mại quốc tế. Khái niệm về rào cản phi thuế quan.
Trên thực tế, vấn đề thƣơng mại quốc tế, trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển. Các quốc gia tranh giành nhau để có đƣợc chỗ đứng trên thị trƣờng quốc tế, phấn đấu vì một nền thƣơng mại tự do toàn cầu hay thậm chí tùy thuộc vào những nguyên nhân khác nhau, khách quan hay chủ quan mà các nƣớc cho ra đời các biện pháp bảo hộ thƣơng mại. Trong đó không thể không kể tới các biện pháp phi thuế quan. Về nguyên tắc, các biện pháp này là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nƣớc quan trọng nhƣ sức khỏe con ngƣời, động thực vật, môi trƣờng, an ninh quốc gia, gây khó khăn trong việc tiếp cận thị trƣờng quốc gia đó với hàng hóa, dịch vụ nƣớc ngoài.
Tuy nhiên trên thực tế, các biện pháp phi thuế quan có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thƣơng mại quốc tế bởi chúng có thể đƣợc sử dụng vì mục tiêu bảo hộ cho nền sản xuất trong nƣớc, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hóa nƣớc ngoài vào thị trƣờng nƣớc nhập khẩu. Do đó chúng còn đƣợc gọi là “rào cản phi thuế quan đối với thƣơng mại”. Có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về định nghĩa rào cản phi thuế quan. Đối với Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, thuật ngữ “ Rào cản phi thuế quan” không đƣợc định nghĩa một cách chính thống và cũng không đƣợc đƣa vào các văn bản luật pháp của WTO dù đƣợc sử dụng rộng rãi trong thƣơng mại quốc tế.
Bởi lẽ, trên thực tế, rất khó mà phân biệt đƣợc một biện pháp phi thuế quan có phải là một rào cản phi thuế quan hay không. Do tính phức tạp của nó, nên những tranh chấp liên quan có khi dẫn đến các vụ kiện tại WTO. Sau những phán xử của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO thì ngƣời ta mới công nhận một biện pháp phi thuế quan đƣợc áp dụng có tạo ra rào cản phi thuế quan đối với hoạt động thƣơng mại hay không. 10 Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) đã từng nghiên cứu và đƣa ra định nghĩa về rào cản phi thuế quan “Các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thƣơng mại bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nƣớc” Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD năm 1997 cũng đƣa ra định nghĩa riêng về RCPTQ trong TMQT, đó là “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể đƣợc các quốc gia sử dụng, thông thƣờng dựa trên cơ sở lựa chọn hạn chế nhập khẩu” Trái lại với định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD chỉ tập trung đến khía cạnh tiêu cực của NTM, theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển – UNCTAD (2012), các biện pháp NTMs không phải là biện pháp thuế quan thông thƣờng nhƣng có tác động kinh tế đến việc giao thƣơng hàng hóa giữa các thị trƣờng trên thế giới.
Nhƣ vậy UNCTAD cho rằng NTMs bao gồm cả các biện pháp tác động tích cực và tiêu cực lên thƣơng mại. Mặc dù có nhiều cách nhìn nhận về biện pháp phi thuế quan khác nhau nhƣng nhìn chung ta có thể hiểu là bất kỳ chính sách phi thuế quan nào do Chính phủ một quốc gia ban hành để làm ảnh hƣởng đến lƣu chuyển hàng hóa quốc tế, hạn chế khối lƣợng hoặc giá trị nhập khẩu và/hoặc ảnh hƣởng đến giá hàng hóa nhập khẩu. Với cách tiếp cận nhƣ trên, “biện pháp phi thuế quan” đƣợc hiểu là Chính phủ đƣa ra các chính sách rào cản đối với thƣơng mại không phải về thuế quan, có ảnh hƣởng đến thƣơng mại hàng hóa, bảo vệ doanh nghiệp nội địa, hạn chế nhập khẩu. Các công cụ của hệ thống rào cản phi thuế quan.
Trong thƣơng mại quốc tế, hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia này vào quốc gia khác không những gặp phải hàng rào thuế quan, mà còn có thể đối mặt với các hàng rào phi thuế quan. Hàng rào phi thuế quan có 2 nhóm chính là: (i) Hàng rào kỹ thuật, (ii) Hàng rào phi kỹ thuật. 11 Hàng rào kỹ thuật Các rào cản kỹ thuật với thƣơng mại (TBT) Các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) Hệ thống quản lý chung trên thế giới. Hàng rào phi kỹ thuật Hạn ngạch (Quota) Hạn chế xuất khẩu tự nguyện Các biện pháp chống bán phá giá Các biện pháp chống trợ cấp 1.
Hiệp định TBT. Việc thông qua hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thƣơng mại (Hiệp định TBT- Agreement on Technological Barriers to Trade) trong khuôn khổ WTO nhƣ một sự thừa nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật, đồng thời qua đó kiểm soát các biện pháp này đƣợc sử dụng đúng mục đích và ngăn không cho chúng trở thành công cụ bảo hộ với mục tiêu nhƣ sau “cố gắng đảm bảo rằng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các quy trình kiểm tra và chứng nhận sản phẩm không gây những trở ngại không cần thiết đối với thương mại. Theo Hiệp định TBT, khi ban hành các quy định về kỹ thuật đối với hàng hóa, mỗi nƣớc thành viên WTO đều phải đảm bảo rằng việc áp dụng những quy định này theo 6 nguyên tắc cơ bản nhƣ sau: 12 ● Nguyên tắc 1: Tránh tạo ra các rào cản không cần thiết đối với thƣơng mại quốc tế (nếu có thể dùng các biện pháp khác ít hạn chế thƣơng mại hơn).2, điều II, hiệp định TBT quy định “các nước cần đảm bảo rằng các tiêu chuẩn kỹ thuật không được chuẩn bị, thông quy và áp dụng với mục đích tạo ra các cản trở không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Với mục đích này, các tiêu chuẩn kỹ thuật không được phép gây hạn chế cho thương mại hơn mức cần thiết để hoàn thiện mục tiêu hợp pháp, có tính đến các rủi ro có thể nảy sinh từ sự không hoàn tất.” Nhƣ vậy, hiệp định khuyến khích các quốc gia sử dụng tiêu chuẩn quốc tế để giảm thiểu tối đa sự sai khác, chênh lệch trong quy định, hình thức của hàng rào kỹ thuật giữa các quốc gia.
Các quốc gia có thể có những bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật riêng nhƣng cần lƣu ý, những mục tiêu quản lý phải hợp pháp và cần thiết. Các thành viên phải đảm bảo rằng các văn bản quy định về kỹ thuật đƣợc soạn thảo, ban hành và áp dụng mà không hạn chế thƣơng mại quá mức cần thiết để thực hiện một mục tiêu hợp pháp. Mục tiêu hợp pháp ở đây đó là: các yêu cầu về an ninh quốc gia, ngăn ngừa hành động gian lận, bảo vệ sức khỏe con ngƣời, động vật hoặc thực vật, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm và bảo vệ môi trƣờng. ● Nguyên tắc 2: Không phân biệt đối xử.
Hiệp định đòi hỏi các thành viên áp dụng Quy chế tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) khi đƣa ra các quy định quản lý kỹ thuật. Nguyên tắc tối huệ quốc- nƣớc đƣợc hƣởng ƣu đãi nhất (Most Favoured Nation- MFN) đƣợc hiểu là nếu một nƣớc dành cho một nƣớc thành viên ƣu đãi nào đó thì nƣớc này cũng sẽ phải dành sự ƣu đãi không kém hơn những ƣu đãi mà nƣớc đó dành cho bất kỳ một bên thứ ba nào. Tức là những ƣu đãi, những miễn giảm liên quan tới vấn đề thuế quan, đặc quyền mà quốc gia này áp dụng với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ nƣớc khác thì cũng sẽ hiển nhiên đƣợc áp dụng một cách vô điều kiện với hàng hóa xuất nhập khẩu từ các nƣớc thành viên khác. 13 Nguyên tắc Đối xử quốc gia (National Treatment-NT) đƣợc hiểu là dựa trên cam kết mà một nƣớc sẽ dành cho các hàng hóa, dịch vụ, nhà cung cấp trong nƣớc những ƣu đãi không kém hơn so với hàng hóa, dịch vụ, nhà cung cấp của quốc gia khác.
Nhìn chung, nguyên tắc này vừa giúp các quốc gia xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong hoạt động thƣơng mại quốc tế nói chung (thông qua MFN) vừa góp phần tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa, dịch vụ, đầu tƣ trong và ngoài nƣớc (thông qua NT). ● Nguyên tắc 3: Hài hòa hóa Hiện nay, số lƣợng thành viên WTO là các quốc gia đang và chậm phát triển chiếm tới ¾ số thành viên của WTO chính vì thế Hiệp định TBT cũng đề ra các chính sách khuyến khích phát triển, linh hoạt trong việc ban hành và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn có sự linh hoạt, hài hòa giữa các quốc gia thành viên. ● Nguyên tắc 4: Có tính đến các tiêu chuẩn quốc tế chung Theo Hiệp định TBT, đối với các quy chuẩn kỹ thuật, nếu đã có những tiêu chuẩn quốc tế chung liên quan thì các nƣớc thành viên WTO phải áp dụng các tiêu chuẩn quốc té đó để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật nội địa của mình. Quy định tạo ra sự thống nhất tƣơng đối về quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa ở các nƣớc khác nhau, vì thế tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu.
● Nguyên tắc 5: Đảm bảo nguyên tắc tƣơng đƣơng và công nhận lẫn nhau(với các nƣớc khác) Hiệp định TBT quy định về kết quả của các tổ chức đánh giá sự hợp chuẩn với những chỉ dẫn liên quan do các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành. Tức là, những kết quả liên quan tới các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự hợp chuẩn đƣợc chứng nhận tại một nƣớc thì kết quả này cũng sẽ đƣợc công nhận ở các nƣớc khác.