Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU. Chương 3: Tổng quan về tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Chương 4: Tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU Chương 5: Các khuyến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU 1. Đóng góp của nghiên cứu 9 Nghiên cứu đạt được các mục tiêu đề ra như trên sẽ đóng góp nhiều về mặt khoa học cũng như thực tiễn.
Thứ nhất, đề tài lượng hóa rõ ràng mức độ tác động các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU theo phương pháp nghiên cứu mới. Thứ hai, kết quả nghiên cứu đóng góp vào khung lý luận và thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, cung cấp thêm nguồn thông tin hữu ích cho ngành xuất khẩu thuỷ sản nói chung và của Việt Nam nói riêng. Thứ ba, đề tài nghiên cứu về vấn đề mang tính thời sự vì thuỷ sản luôn luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và có tiềm năng tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong giai đoạn tới, đồng thời bài nghiên cứu còn cung cấp thông tin quan trọng cho nhà nước và doanh nghiệp trong việc đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản trong tương lai. Thứ tư, kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu về xuất khẩu thuỷ sản và các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, góp phần hỗ trợ cho giảng viên, học viên và những người quan tâm tới chủ đề.
10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG EU 2. Cơ sở lý luận về thủy sản 2. Khái niệm thủy sản Thủy sản (Seafood) là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Thanh niên, thủy sản là thứ sản vật có giá trị kinh tế khai thác được dưới nước như cá, tôm, hải sâm, rau câu.
Trong Luật thủy sản quy định, "Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản". Thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra và cung cấp các sản phẩm thủy sản tiêu dùng trực tiếp cho con người. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định thủy sản là ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững, có trình độ quản lý, khoa học công nghệ tiên tiến. Ngành thủy sản hiện nay là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam với quy mô ngày càng mở rộng.
Chính vì vậy, việc định hướng chiến lược phát triển cho ngành theo từng giai đoạn trước những biến động của thị trường thế giới là điều thực sự cần thiết. Phân loại thủy sản Từ trước đến nay, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm chính là tôm, cá tra, cá ngừ, các loại thủy sản đông lạnh và các loại thủy sản khô. Ngoài ra, còn có những mặt hàng cao cấp như bào ngư, cá ngừ, nghêu và các mặt hàng hải sản khác… đang dần được bổ sung thêm, nhưng sản lượng vẫn còn ít so với nhu cầu cung cấp cho quốc tế. Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực được phân loại theo nhiều cách: Phân loại thủy sản dựa theo đặc điểm cấu tạo loài tính ăn, môi trường sống và khí hậu; theo nguồn gốc hay theo mức độ chế biến: thủy sản nguyên liệu, thủy sản sơ chế, thủy sản chế biến, thủy sản ăn trực tiếp,.
Hay theo cách phân loại của Tổ chức Hải quan thế giới, thường được gọi tắt là hệ thống hài hòa hoặc hệ thống HS, là hệ thống được tiêu chuẩn hóa quốc tế về tên gọi và mã số; với mục 7 Mã HS đối với danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện; mục 8 mã số HS đối với danh mục các loài thủy sản cấm xuất khẩu và những mục HS khác đối với mặt hàng thủy sản trong nước. 11 Nhóm sản phẩm tôm: Tôm là mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam. Trong đó các loại tôm chủ yếu xuất khẩu bao gồm: tôm sú, tôm chân trắng và một số loại tôm khác. Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,9 tỷ USD (tăng 5,4% so với năm 2020) (theo Tổng cục Thủy sản) và Việt Nam luôn nằm trong danh sách đứng đầu các nước xuất khẩu tôm sang thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,.
Nhóm sản phẩm cá: Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hay cá nước lợ. Các loại cá được ưa chuộng và xuất khẩu nhiều bao gồm: cá tra, cá ngừ, cá trích. Trong đó xuất khẩu cá tra đang ngày càng chiếm xu thế và có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Theo VASEP, xuất khẩu cá tra chiếm 19% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2020.
Năm 2021, thị trường tiêu thụ bắt đầu bình ổn trở lại, nhưng những làn sóng dịch Covid lại liên tục bùng phát tại Việt Nam, khiến toàn bộ chuỗi sản xuất thương mại thủy sản bị gián đoạn, trong đó nặng nề nhất là cá tra vì nằm trong trung tâm dịch và bị đình trệ đúng vào thời điểm cần tăng tốc sản xuất xuất khẩu cho cuối năm và năm mới. Do vậy, xuất khẩu cá tra dù đã hồi phục 8% nhưng vẫn chỉ đạt trên 1,6 tỷ USD năm 2021. Tính đến hết quý I/2022, xuất khẩu cá tra đã chiếm 27% giá trị xuất khẩu toàn ngành thủy sản. Theo sau đó là cá ngừ, trong 6 tháng đầu năm 2022 xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam đạt 355 triệu USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2020.
Các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam đã xuất được sang 91 thị trường trong giai đoạn này. Nhóm sản phẩm thủy sản khác: Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam khác bao gồm: mực, bạch tuộc, ghẹ, hàu, hải sâm,. và các mặt hàng thủy sản đông lạnh. Theo VASEP, 7 tháng đầu 2021 xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt hơn 1,9 tỷ USD bao gồm các nhóm sản phẩm: cá các loại khác (trừ cá ngừ và cá tra, chiếm 52,3% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam); mực, bạch tuộc (16,8%); cua, ghẹ và giáp xác khác (4,6%); nhuyễn thể hai mảnh vỏ (3,9%) và nhuyễn thể khác (trừ mực bạch tuộc và nhuyễn thể hai mảnh vỏ chiếm 0,2%).
Trong thời gian gần đây, các sản phẩm xuất khẩu này cũng đã đạt được mức tăng trưởng khá và dần giành được vị thế trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Cơ sở lý luận về xuất khẩu thủy sản 2. Khái niệm xuất khẩu thủy sản Xuất khẩu thủy sản là việc xuất khẩu mà mặt hàng được xuất khẩu ở đây là thủy sản. Cho đến nay, tùy theo cách tiếp cận đã có một số quan niệm khác nhau về xuất khẩu thủy sản, song đều có điểm chung đó là: xuất khẩu thủy sản là quá trình mua bán, 12 trao đổi giữa hai quốc gia khác nhau, hai vùng lãnh thổ khác nhau, hai chủ thể kinh tế ở hai quốc gia khác nhau.
Xuất khẩu thủy sản là tổng hợp các hoạt động từ sản xuất tới tiêu thụ thủy sản nhằm cung cấp các sản phẩm thủy sản cho người tiêu dùng cuối cùng tại thị trường nước ngoài. Xuất khẩu thủy sản bao gồm nhiều hoạt động sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau theo một chuỗi các khâu: khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Khi lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, các hoạt động sản xuất thủy sản chưa có sự tách biệt giữa các khâu một cách rõ ràng, thậm chí còn lồng ghép vào nhau thì khối lượng sản phẩm thủy sản được sản xuất ra còn ít, chất lượng chưa cao và chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường nhỏ. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội đã làm cho các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao, các hoạt động của xuất khẩu thủy sản ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và hợp thành một thể thống nhất làm cho sản phẩm thủy sản tăng lên cả về số lượng và chất lượng.
Sự tăng trưởng về mặt kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam những năm qua được tạo nên từ nền tảng của ngành nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản. Ngoài việc phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho khoảng 100 triệu dân ở thị trường nội địa, ngành thủy sản Việt Nam đã từng bước hội nhập, chinh phục thị trường thế giới. Cùng với sự tăng trưởng của nhu cầu tiêu dùng thủy sản trên toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng trong nhiều năm và lần đạt mốc 11 tỷ USD vào năm 2022. Hiện tại Việt Nam đang nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc và Na Uy.
Ngành thủy sản đã đạt được những thành công nhất định và là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế (Ngô Thị Ngọc Bình, 2022). Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản năm 2021, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2021 đạt 8,9 tỷ USD. tăng 5,7% so với 8,41 tỷ USD năm 2020. So năm 2019, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2020 không giảm quá nhiều, giúp Việt Nam duy trì vị trí top 3 trong 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, đứng đầu về Đông Nam Á và đứng thứ hai ở châu Á.
Thị trường xuất khẩu thủy sản đang mở rộng tới hơn 160 thị trường trên toàn thế giới. Quy trình xuất khẩu thủy sản: Bước 1: Kiểm tra mặt hàng thủy sản xuất khẩu Trước khi tiến hành xuất khẩu, doanh nghiệp cần kiểm tra mặt hàng thủy sản của mình có nằm trong danh mục được cho phép xuất khẩu hay không dựa vào khoản 2 13 Điều 31 Thông tư 04/2015/TT-BTC ngày 12/02/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.