chương 1 và phân tích vụ điều tra, so sánh cách giải thích của Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO với nội hàm các quy định tương ứng của Việt Nam, chương 2 đề xuất các hướng hoàn thiện pháp luật để tương thích hơn với pháp luật quốc tế cũng như hoàn thiện các vấn đề khác giúp Việt Nam có cách thức áp dụng hữu hiệu nhất biện pháp tự vệ thương mại trong việc bảo vệ ngành sản xuất trong nước. PHÁP LUẬT WTO VỀ TỰ VỆ THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TỰ VỆ THƢƠNG MẠI TẠI WTO 1. Khái quát về các nguyên tắc, điều kiện và thủ tục điều tra áp dụng biện pháp tự vệ theo quy định tại Hiệp định về biện pháp tự vệ Trong thời đại thế giới phẳng , việc hội nhập kinh tế của một quốc gia là điều kiện tất yếu giúp đất nước không bị tụt hậu về kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội, văn hóa. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp lĩnh vực xuất khẩu phát triển và tận dụng thị trường quốc tế, đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, tiêu d ng hàng hóa dịch vụ nước ngoài của người tiêu dùng trong nước.
Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đồng thời mở cánh cửa thị trường nội địa cho hàng hóa và dịch vụ nước ngoài, từ đó nền kinh tế quốc gia có mối quan hệ liên thông với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, chịu những tác động tích cực lẫn tiêu cực trước những biến động của thế giới. Để có thể vừa hội nhập phát triển vừa bảo vệ nền sản xuất nội địa, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã dành cho các quốc gia thành viên một số biện pháp thương mại đặc th để hạn chế hoặc giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực do các biến động trên thị trường quốc tế và hàng hóa nhập khẩu gây ra. Các biện pháp phòng vệ thương mại là những công cụ quan trọng để đáp ứng điều này. Công cụ phòng vệ thương mại bao gồm các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ - áp dụng đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào một quốc gia thành viên WTO.
Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy các biện pháp tự vệ thương mại ( tự vệ ) là một trong những công cụ hiệu quả để bảo hộ sản xuất trong nước. Trong thương mại quốc tế, tự vệ được hiểu là một công cụ hỗ trợ các nhà sản xuất trong nước khi có hiện tượng gia tăng nhập khẩu hàng hóa một cách bất thường gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp. Trong khuôn khổ hệ thống WTO, biện pháp tự vệ được quy định tại Điều XIX G TT 1994 và diễn giải cụ thể tại HĐTV. Các nguyên t n t v t uy nh c a WTO Nh m đảm bảo các quốc gia không lạm dụng biện pháp tự vệ để biến nó thành một công cụ bảo hộ mậu dịch trá hình, qua đó bóp méo các kết quả đàm phán tự do hóa thương mại của hệ thống thương mại đa phương, WTO đã quy định các nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ mang tính ràng buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên, như sau: + Nguyên tắc không phân biệt đối xử: HĐTV yêu cầu quốc gia thành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ cho một mặt hàng nhập khẩu thì không được phân biệt nguồn xuất xứ của hàng hóa đó 1.
Nghĩa là biện pháp 1 HĐTV, điều 2.2 6 được áp dụng lên tất cả các nước có c ng mặt hàng xuất khẩu đến quốc gia thành viên này. Tuy nhiên, có một ngoại lệ riêng cho các quốc gia thành viên xuất khẩu đang phát triển, đó là nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ mỗi quốc gia này không vượt quá 3% và tổng thị phần nhập khẩu từ các quốc gia tương tự không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa liên quan2 thì không áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước này. Ngoại lệ đối với quốc gia đang phát triển thể hiện sự ưu đãi nhất định của các nước Thành viên WTO cho những Thành viên có điều kiện kém hơn. Đúng là chỉ với thị phần riêng lẻ không quá 3% thì nguồn nhập khẩu từ một quốc gia không thể gây nên thiệt hại cho ngành công nghiệp của quốc gia khác, nhưng khi cộng với thị phần từ các nước khác trong c ng thời điểm thì có thể gây nên thiệt hại.
Nguyên tắc này tạo một sự bảo vệ trong giới hạn tối thiểu cho việc xuất khẩu hàng hóa của Thành viên đang phát triển. Một ngoại lệ khác của nguyên tắc không phân biệt đối xử (không quy định trong HĐTV) mà các quốc gia thường xuyên sử dụng là loại trừ các nước c ng n m trong một thỏa thuận liên kết kinh tế khu vực khỏi phạm vi áp dụng biện pháp tự vệ. Trong trường hợp này, biện pháp tự vệ chỉ áp dụng đối với hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia khác không c ng n m trong khối liên minh. Và trong văn bản thỏa thuận liên kết kinh tế phải có quy định về việc miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ như vậy.
Tuy nhiên, áp dụng ngoại lệ này là một vấn đề còn gây tranh cãi trong các vụ kiện về tự vệ tại WTO. + Nguyên tắc đảm bảo bồi thường thương mại: Nguyên tắc này thể hiện rất r tại Điều 8. Do bản chất của tự vệ trái ngược với những biện pháp phòng vệ thương mại khác mới phát sinh nguyên tắc riêng biệt này. Khác với bán phá giá hay trợ cấp là d ng biện pháp cạnh tranh không lành mạnh làm phương hại đến ngành sản xuất của một quốc gia khác, yêu cầu áp dụng tự vệ xảy ra khi trên thị trường thực tế không tồn tại sự cạnh tranh không lành mạnh nào.
Hàng hóa được nhập khẩu hợp pháp, không bị xác định là bán giá dưới giá thị trường hay sử dụng hỗ trợ của Nhà nước để tạo lợi thế cạnh tranh, nhưng chúng tăng nhanh làm ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước bị thiệt hại. Vì muốn bảo hộ cho một ngành nhất định của mình mà quốc gia thành viên đặt ra rào cản nhập khẩu đối với hàng hóa từ các nước khác, từ đó ngăn cản thương mại tự do. Chính vì vậy, để đền b những bất lợi do biện pháp tự vệ của mình gây ra, quốc gia nhập khẩu phải dành những nhượng bộ nhất định cho các nước bị ảnh hưởng. Nhượng bộ trong lĩnh vực nào và ở mức độ nào do các bên tự thỏa thuận với nhau trong quá trình tham vấn.
Vì biện pháp tự vệ còn được hiểu là công cụ bảo hộ phải trả tiền 3 nên trên thực tế các quốc gia khá thận trọng khi sử dụng. Theo thống kê của WTO, từ khi Hiệp định tự vệ có hiệu lực đến nay chỉ có khoảng hơn 30 vụ tranh chấp được giải quyết tại WTO, trong 2 HĐTV, điều 9.1 3 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế, website: http://chongbanphagia.vn/anpham/20131101/bien-phap-tu-ve-trong-thuong-mai-quoc-te, truy cập ngày 20/3/2014 7 khi số vụ kiện bán phá giá và trợ cấp rất nhiều4. Ngay cả những nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ hay Cộng đồng Châu Âu cũng khá hạn chế sử dụng biện pháp này, do đó các quốc gia bình thường khác càng phải suy xét cẩn thận để không bị ảnh hưởng tiêu cực sau khi áp dụng biện pháp tự vệ. + Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại trong phạm vi và mức độ cần thiết: Nh m tránh việc các quốc gia thành viên lạm dụng biện pháp này để bảo hộ nền công nghiệp nội địa, có một nguyên tắc phải tuân theo là quốc gia nhập khẩu chỉ được áp dụng biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh nền sản xuất trong nước5.
Tự vệ trong từng trường hợp cụ thể chỉ có ảnh hưởng đối với ngành công nghiệp của quốc gia xuất khẩu mặt hàng thuộc đối tượng áp dụng biện pháp, không liên quan đến các ngành khác của quốc gia đó. Và biện pháp này không nh m mục đích trừng phạt mà chỉ có tác dụng kềm hãm sự nhập khẩu quá mức, kéo dài thời gian cho ngành công nghiệp nội địa điều chỉnh phương thức sản xuất kinh doanh ph hợp nh m nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành này trên thị trường trong nước. Do liên quan đến việc phải có nhượng bộ sau đó để đền b các tổn thất mình gây ra nên quốc gia nhập khẩu phải cân nhắc cẩn thận áp dụng biện pháp ở mức độ nào là vừa phải, không phải trả giá đắt, không rơi vào trường hợp vì bảo hộ một ngành nhất định mà thất thế trong những lĩnh vực công nghiệp trọng yếu khác sau này. Thời gian thực thi biện pháp cũng không được quá dài, Hiệp định xác định thời hạn tối đa cho một biện pháp không được quá 8 năm (kể cả khi áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời và có sự gia hạn chính thức), đồng thời quốc gia thành viên phải có sự rà soát thực tế, từ đó có thể loại bỏ hoặc đẩy nhanh tốc độ tự do hóa thương mại6.
Đ ều ki n áp d ng bi n pháp t v : Cơ sở kinh tế để quốc gia được phép thực hiện biện pháp tự vệ và hạn chế hàng nhập khẩu là sự thâm nhập bất ngờ và ngoài tầm kiểm soát của hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa gây ảnh hưởng nghiệm trọng tới thị phần kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa của quốc gia. Theo quy định của điều XIX G TT 1994 và Điều 2.2 HĐTV, quốc gia chỉ được áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu sau quá trình điều tra và chứng minh được trên thực tế có sự tồn tại đồng thời của ba yếu tố: (1) sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối hoặc tương đối mặt hàng đó vào thị trường nội địa; (2) ngành sản xuất nội địa sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng nhập khẩu với những thiệt hại đó. 4 Trong suốt giai đoạn 1995 – 2009 có 3427 cuộc điều tra chống bán phá giá, 215 vụ điều tra đối kháng và chỉ 198 vụ điều tra tự vệ - Báo cáo thường niên của WTO, 2010, tr.