Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàng Yến thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9380107), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Hạnh và TS. Nguyễn Minh Hằng (bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được định hình từ Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X và tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM gồm 11 nội dung thành phần với 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện giai đoạn 2010–2020, cả nước đã huy động được nguồn lực tài chính đáng kể, giải quyết cơ bản 15,2 nghìn tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản; đến hết quý I năm 2020 có 5.064 xã, 124 đơn vị cấp huyện và 9 địa phương cấp tỉnh đạt chuẩn NTM.

Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn và pháp lý, tác giả chỉ ra ba vấn đề bất cập lớn:

  1. Kết quả xây dựng NTM chưa bền vững, phát triển thiếu đồng đều giữa các vùng miền; tình trạng thiếu hụt vốn ngân sách ở các địa bàn khó khăn làm gia tăng cách biệt kinh tế và phát sinh ô nhiễm môi trường nông thôn.
  2. Nguồn vốn huy động chưa tương xứng với nhu cầu thực tế: vốn ngân sách nhà nước (NSNN) và tín dụng còn hạn hẹp, tiếp cận tín dụng gặp trở ngại; vốn từ doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất thấp (chỉ khoảng 5%); đóng góp của người dân và cộng đồng dân cư giảm dần về các giai đoạn sau.
  3. Thể chế pháp luật về phát triển nông nghiệp, nông thôn mới ở giai đoạn định hình nền tảng, chưa có văn bản luật riêng; các luật chuyên ngành về đất đai, đầu tư, tín dụng, bảo hiểm chậm được sửa đổi; quy định về huy động sức dân thiếu thống nhất dẫn đến sai phạm, lạm thu và phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản ở nhiều địa phương.

Từ đó, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: thiếu vắng một công trình khoa học pháp lý nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về pháp luật điều chỉnh quan hệ huy động bốn nguồn vốn phục vụ xây dựng NTM tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu tổng thể hệ thống thể chế, chính sách pháp luật về huy động vốn đầu tư xây dựng NTM; đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thi hành; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân chia thành ba nội dung cụ thể:

  1. Thu thập, hệ thống hóa và phân tích quan điểm lý luận về huy động vốn và pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM; khảo sát kinh nghiệm quốc tế (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh và các nước OECD) để rút ra các hàm ý phù hợp.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM trên các khía cạnh định tính và định lượng, làm rõ ưu điểm, hạn chế của hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.
  3. Xác định quan điểm, định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể cùng các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ pháp luật và hoạt động thi hành pháp luật trong thể chế huy động vốn xây dựng NTM, bao gồm: chính sách nền tảng; quan điểm lý luận và nội hàm pháp luật huy động vốn; thực tiễn áp dụng quy định; các giải pháp lập pháp và nâng cao hiệu lực thi hành.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu thực tiễn pháp luật tại Việt Nam; mở rộng khảo sát có chọn lọc kinh nghiệm của một số quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh và các nước thuộc khối OECD.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát hệ thống chính sách, pháp luật và số liệu thực thi trong giai đoạn từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án (2022).
  • Giới hạn nội dung: Luận án tập trung vào pháp luật huy động 4 nguồn vốn chính thức được quy định trong Chương trình mục tiêu quốc gia: vốn NSNN, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và nguồn lực của người dân cùng cộng đồng dân cư (bao gồm tiền tệ, tài sản, hiện vật, đất đai, ngày công lao động quy đổi thành tiền). Luận án không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật, xã hội học thuần túy của Chương trình mục tiêu quốc gia ngoài phạm vi điều chỉnh pháp luật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Các nghiên cứu quốc tế về phát triển nông thôn và huy động nguồn lực

  • Mô hình Saemaul Undong (Hàn Quốc): Công trình của Sooyoung Park (2009) trên Tạp chí Phát triển Châu Á - Thái Bình Dương phân tích phong trào "Làng mới" thập niên 1970 với 16 dự án hạ tầng thiết yếu, chỉ ra bài học về huy động nguồn lực phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội. Luận án của Sang Yoon Rhee (Đại học Nam California, 1985) và nghiên cứu của Bộ Chiến lược và Tài chính Hàn Quốc (2013) do Joon-Kyung Kim và K.S. Kim chủ biên đã làm rõ cơ chế "dân làm, chính phủ hỗ trợ", kết hợp giữa hỗ trợ vật liệu của nhà nước và đóng góp đất đai, lao động của dân làng, gắn liền với cải cách quản lý thuế.
  • Kinh nghiệm tại Trung Quốc và khu vực Đông Á: Luận án tiến sĩ của Kristen Looney (Đại học Harvard, 2012) so sánh các chiến dịch hiện đại hóa nông thôn tại Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc, nhấn mạnh cải cách đất đai và vai trò tự quản của cộng đồng. Chuyên khảo dịch thuật của Cù Ngọc Hưởng (Dự án MISPA, 2006) và nghiên cứu của Minzi Su (2009) phân tích khái niệm "Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa" ở Trung Quốc với 5 mục tiêu (sản xuất phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp, quản lý dân chủ), nêu rõ yêu cầu pháp chế hóa chính sách hỗ trợ nông thôn để ràng buộc trách nhiệm chính quyền. Martin Griffiths (2016) phân tích mối quan hệ giữa quy hoạch đô thị hóa mới và việc phân bổ nguồn lực công giữa trung ương và địa phương.
  • Kinh nghiệm tại các nước phương Tây: Mateo Ambrosio-Albala và Johan Bastiaensen (Đại học Antwerp, 2010) áp dụng lý thuyết thể chế và tiếp cận lãnh thổ để nghiên cứu chính sách nông thôn tại xứ Wales và Anh (vai trò của Hội đồng Hành động Tự nguyện WCVA, Mạng lưới Phát triển Nông thôn, cơ quan Defra). Nghiên cứu của Thượng nghị sĩ Martin Heinrich (2018) tại Mỹ chỉ ra tầm quan trọng của cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, đề xuất nhà nước phải giữ tỷ lệ góp vốn cao hơn và ban hành khung pháp lý rõ ràng nhằm chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân.

Các nghiên cứu trong nước về huy động vốn xây dựng nông thôn mới

  • Nhóm công trình kinh tế và tài chính công: Luận án tiến sĩ của Lê Sĩ Thọ (Học viện Tài chính, 2016) nghiên cứu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng NTM tại Hà Nội, chỉ ra sự hạn chế của các dự án PPP theo hợp đồng BOT, BTO, BT. Luận án của Đoàn Thị Hân (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2017) và Lý Văn Toàn (Đại học Thái Nguyên, 2017) khảo sát cơ chế tài chính trên địa bàn miền núi phía Bắc và Thái Nguyên. Đề tài cấp nhà nước do TS. Vũ Nhữ Thăng chủ nhiệm (Viện Chiến lược và chính sách tài chính, 2015) phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh 4 nguồn vốn, kiến nghị tăng thu ngân sách địa phương và sửa đổi Luật NSNN, Luật Đất đai. Đề tài của Nguyễn Hoàng Hà (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014) làm rõ các hạn chế chính sách khiến nguồn vốn từ doanh nghiệp và cộng đồng đạt tỷ lệ thấp.
  • Nhóm công trình về phát huy vai trò cộng đồng và cơ chế đặc thù: Hoàng Ngọc Hà (Đại học Thương mại, 2018) khảo sát việc áp dụng Nghị định số 24/1999/NĐ-CP và Thông tư số 85/1999/TT-BTC tại Hà Tĩnh, chỉ ra thực trạng mức đóng góp của dân còn quá cao. Bùi Thị Kim (2019), Bạch Quốc Khang (2019), Hoàng Vũ Quang và Nguyễn Tiến Định (2010) phân tích quyền làm chủ của người dân, quyền tự chủ sản xuất đối với ruộng đất, đồng thời đề xuất mô hình Quỹ phát triển cộng đồng và cơ chế đầu tư đặc thù cho các công trình quy mô nhỏ do dân tự làm.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Phần lớn các công trình hiện có tiếp cận việc huy động vốn dưới giác độ kinh tế học, quản lý tài chính công hoặc tổng kết thực tiễn chính sách ở phạm vi hẹp tại các địa phương. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học luật kinh tế để hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định cấu trúc nội dung, hình thức của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM, đồng thời đánh giá toàn bộ 4 kênh huy động vốn theo khung pháp luật thực định nhằm đề xuất các sửa đổi lập pháp đồng bộ ở tầm quốc gia.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết thể chế và cách tiếp cận kinh tế - luật:

  • Lý thuyết thể chế: Coi pháp luật là thành tố trung tâm của thể chế kinh tế, giữ vai trò xác lập quy tắc ứng xử, phân định quyền tài sản, tạo lập môi trường minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch và hạn chế rủi ro cho các bên tham gia huy động vốn.
  • Tiếp cận kinh tế - luật: Đánh giá các quy phạm pháp luật dựa trên việc giải quyết hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ huy động vốn (Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, người dân và cộng đồng dân cư); xem xét tính khả thi kinh tế của các quy định pháp lý khi triển khai vào thực tế.
  • Khung phân tích 4 nguồn vốn: Phân định rõ bản chất pháp lý và phương thức điều chỉnh của từng kênh vốn: vốn NSNN (quan hệ tài chính công mang tính quyền lực - phục tùng), vốn tín dụng (quan hệ hợp đồng vay tài sản mang tính thương mại và chính sách xã hội), vốn doanh nghiệp (quan hệ đầu tư kinh doanh, hợp tác công - tư PPP), nguồn lực người dân và cộng đồng (quan hệ đóng góp tự nguyện, dân chủ cơ sở).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống và liên ngành:

  1. Phương pháp phân tích: Sử dụng trong toàn bộ các chương để làm rõ các khái niệm khoa học pháp lý, mổ xẻ cấu trúc quy phạm của các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động huy động vốn, và đánh giá tính phù hợp của các quy định dựa trên các tình huống thực tiễn.
  2. Phương pháp luật học so sánh: Rà soát, so sánh quy định pháp luật và chính sách của các nước (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Úc) về quản lý đất đai, ưu đãi tín dụng, bảo lãnh vay vốn, hợp đồng công - tư để tìm kiếm các bài học kinh nghiệm có khả năng tiếp thu tại Việt Nam.
  3. Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập, xử lý và hệ thống hóa các chuỗi số liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức về kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2011–2020; phác họa các biểu đồ số liệu (từ Biểu đồ 2.1 đến Biểu đồ 2.7) để minh chứng cho các lập luận pháp lý.
  4. Phương pháp khái quát hóa: Khái quát từ các đánh giá thực tiễn thi hành và lý luận khoa học thành các nguyên tắc, định hướng lập pháp và các điều khoản kiến nghị sửa đổi cụ thể trong hệ thống pháp luật thực định.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Hiến pháp, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), các Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Báo cáo chính thức từ Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Các phụ lục biểu mẫu và dữ liệu tổng hợp về quy định pháp luật của các bộ ngành qua các giai đoạn 2011–2015 và 2016–2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề lý luận về huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới và pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới

Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng, xây dựng các khái niệm khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Khái niệm NTM và huy động vốn: Luận án phân tích NTM dưới góc độ là một mô hình tổ chức kinh tế - xã hội nông thôn đáp ứng bộ tiêu chí do Nhà nước ban hành (19 tiêu chí thuộc 5 nhóm). Huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là quá trình các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các cơ chế, biện pháp để tập hợp, chuyển hóa các nguồn lực tài chính tiềm năng (vốn bằng tiền, hiện vật, tài sản, đất đai, ngày công lao động) từ Nhà nước, tổ chức kinh tế, tín dụng và người dân thành nguồn vốn thực tế phục vụ các mục tiêu NTM.
  • Bản chất pháp luật huy động vốn: Tác giả định nghĩa pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ, huy động và giám sát việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn.
  • Các yếu tố chi phối: Luận án làm rõ ba nhóm yếu tố chi phối bản chất và nội dung của pháp luật huy động vốn gồm: chủ trương, đường lối chính trị của Đảng cầm quyền; trình độ phát triển kinh tế - xã hội cùng tích lũy nội bộ của nền kinh tế; chế độ sở hữu và pháp luật quản lý đất đai.
  • Nội dung và hình thức pháp luật: Nội dung pháp luật bao gồm: các nguyên tắc huy động vốn; quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan nhà nước; quy chế pháp lý điều chỉnh 4 nguồn vốn (NSNN, tín dụng, doanh nghiệp, cộng đồng); quy trình, thủ tục huy động; cơ chế công khai, minh bạch và chế tài xử lý vi phạm. Hình thức pháp luật biểu hiện chủ yếu qua các luật chuyên ngành, văn bản dưới luật và các dạng hợp đồng đầu tư (tiêu biểu là hợp đồng PPP).

Chương 2. Thực trạng pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật thực định, việc áp dụng trên thực tế và tổng hợp các số liệu định lượng giai đoạn 2011–2020:

  • Thực trạng pháp luật về 4 nguồn vốn:
    • Vốn NSNN: Thực hiện qua Luật NSNN và Luật Đầu tư công. Cơ chế phân bổ vốn hỗ trợ có mục tiêu từ NSTW cho NSDP còn mang tính bình quân, phân tán; thủ tục giải ngân phức tạp, việc lồng ghép các nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia trên cùng địa bàn cấp xã gặp vướng mắc về thẩm quyền.
    • Vốn tín dụng: Quy định về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại (chủ lực là Agribank) và Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay. Tuy nhiên, quy định về tài sản bảo đảm còn cứng nhắc, việc định giá tài sản trên đất nông nghiệp chưa sát thực tế khiến khả năng tiếp cận vốn vay của các hợp tác xã và hộ nông dân bị hạn chế.
    • Vốn doanh nghiệp: Các quy định khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (như miễn giảm tiền sử dụng đất, hỗ trợ lãi suất) hiệu quả thực tế chưa cao. Cơ chế đầu tư theo phương thức PPP tại địa bàn nông thôn thiếu các quy định chi tiết về chia sẻ rủi ro doanh thu và bảo đảm đầu tư, dẫn đến số lượng dự án PPP trong xây dựng hạ tầng NTM còn rất ít.
    • Nguồn lực của người dân và cộng đồng dân cư: Việc áp dụng Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn và các quy định về đóng góp tự nguyện bị biến tướng ở nhiều nơi. Do áp lực hoàn thành 19 tiêu chí để về đích chuẩn NTM, một số chính quyền địa phương đã ban hành các văn bản trái thẩm quyền, ấn định mức đóng góp cào bằng theo nhân khẩu, gây lạm thu và dẫn tới tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản nghiêm trọng.

Bảng: Kết quả huy động các nguồn vốn đầu tư thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011–2020

STT Nguồn vốn huy động Số tiền huy động Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn
1 Vốn ngân sách nhà nước (Trung ương và địa phương) 811.298 tỷ đồng 28,35%
2 Vốn tín dụng (tín dụng thương mại và tín dụng ưu đãi) 1.807 nghìn tỷ đồng 56,90%
3 Vốn từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế 147.738 tỷ đồng 5,00%
4 Nguồn lực của người dân và cộng đồng dân cư 246 nghìn tỷ đồng Tỷ lệ nhỏ (phần còn lại)
Tổng Toàn bộ nguồn lực huy động giai đoạn 2011–2020 Đạt quy mô lớn toàn xã hội 100%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010–2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương, số liệu được phân tích tại trang 6-7 và Chương 2 của luận án)

  • Đánh giá pháp luật qua số liệu thực tiễn: Số liệu giai đoạn 2011–2020 cho thấy sự mất cân đối lớn: nguồn vốn tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo (56,9%), trong khi vốn doanh nghiệp chỉ đạt 5%. Khoản nợ đọng xây dựng cơ bản lên tới 15,2 nghìn tỷ đồng trên phạm vi cả nước là bằng chứng phản ánh lỗ hổng trong quy định về phê duyệt dự án khi chưa xác định rõ nguồn vốn.
  • Kinh nghiệm quốc tế và bài học: Tác giả phân tích kinh nghiệm từ phong trào Saemaul Undong (Hàn Quốc) về việc nhà nước chỉ hỗ trợ hiện vật làm mồi nhử và giao quyền quyết định tuyệt đối cho dân làng; kinh nghiệm Trung Quốc về hợp đồng khoán đất dài hạn 50 năm và xây dựng Luật Dân làng; kinh nghiệm Mỹ và Anh về Quỹ phát triển nông thôn cùng cơ chế bảo lãnh tín dụng. Các hàm ý rút ra cho Việt Nam gồm: thể chế hóa nguyên tắc dân chủ thực chất, chuyển dần cơ chế hỗ trợ trực tiếp sang bảo lãnh và kích cầu tín dụng, thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm người đứng đầu địa phương trong quản lý nợ công trình.

Chương 3. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi mang tính hệ thống:

  • Quan điểm chỉ đạo: Thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng (Nghị quyết số 26-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW); bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa luật chuyên ngành với pháp luật chung; tôn trọng nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tính tự chủ, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa các bên.
  • Các giải pháp tổng thể:
    • Kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thành các điều luật có hiệu lực trực tiếp.
    • Xử lý mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, Luật Xây dựng và Luật Đầu tư theo phương thức PPP.
    • Tăng cường tính tự chủ của chính quyền cấp xã và cộng đồng dân cư, thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch tài chính.
  • Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định:
    • Về vốn NSNN: Hoàn thiện quy chế phân bổ vốn theo hướng phân cấp triệt để cho cấp huyện và cấp xã; luật hóa quy trình lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình mục tiêu quốc gia; hoàn thiện cơ chế đầu tư đặc thù cho các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản do người dân tự thi công.
    • Về vốn tín dụng: Sửa đổi các quy định về thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp và tài sản gắn liền với đất; hoàn thiện khung pháp lý về bảo hiểm nông nghiệp và quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.
    • Về vốn doanh nghiệp: Bổ sung cơ chế ưu đãi thuế, tiền thuê đất có thời hạn gắn với kết quả đầu tư thực tế; ban hành biểu mẫu hợp đồng mẫu PPP áp dụng riêng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.
    • Về nguồn lực cộng đồng: Ban hành văn bản quy định chặt chẽ về điều kiện, quy trình huy động đóng góp của nhân dân; nghiêm cấm việc ấn định mức đóng góp bắt buộc; quy định rõ ràng quyền kiểm toán, giám sát của Ban thanh tra nhân dân và Ban giám sát đầu tư cộng đồng.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm toán chuyên đề đối với các nguồn vốn NTM; xử lý nghiêm minh các vi phạm về quản lý đầu tư công gây nợ đọng xây dựng cơ bản; đổi mới công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại cơ sở; bồi dưỡng nâng cao năng lực quản trị dự án cho cán bộ cấp xã, thôn.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của tác giả, luận án mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cơ bản:

  1. Bổ sung vào khoa học luật kinh tế hệ thống các quan điểm lý luận về NTM, xác định nội hàm, vị trí, vai trò và các đặc trưng của pháp luật huy động vốn đầu tư xây dựng NTM trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích, bình luận toàn diện hệ thống quy định pháp luật thực định hiện hành về huy động 4 nguồn vốn (NSNN, tín dụng, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư), kết hợp dữ liệu định lượng giai đoạn 2011–2020 để làm rõ các bất cập, mâu thuẫn giữa các văn bản luật chuyên ngành.
  3. Cung cấp luận cứ khoa học từ việc phân tích có hệ thống các bài học kinh nghiệm quốc tế (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh, OECD), đánh giá tính tương thích và khả năng chuyển giao thể chế vào bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam.
  4. Sử dụng phương pháp luật học so sánh để làm rõ mức độ hoàn thiện của thể chế thu hút đầu tư khu vực nông thôn của Việt Nam so với các chuẩn mực và mô hình quản trị nông thôn trên thế giới.
  5. Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp tổng thể và các đề xuất sửa đổi pháp luật thực định cụ thể (về phân cấp ngân sách, hợp đồng PPP nông thôn, định giá tài sản thế chấp nông nghiệp, cơ chế tự nguyện của cộng đồng), góp phần ngăn chặn tình trạng lạm thu và nợ đọng xây dựng cơ bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án được hoàn thành vào năm 2022, phạm vi khảo sát số liệu thực tiễn và văn bản tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2011–2020. Nghiên cứu giới hạn trọng tâm vào yếu tố pháp luật điều chỉnh hoạt động huy động vốn, chưa thể bao quát toàn diện các khía cạnh kinh tế vĩ mô, tác động môi trường hoặc những thay đổi xã hội học khác của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021–2025 gắn với các văn bản luật mới được ban hành hoặc sửa đổi (như Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 và Luật Đất đai mới); mở rộng khảo sát các mô hình tài chính xanh, thị trường tín chỉ carbon trong nông nghiệp và các quỹ tài chính vi mô hỗ trợ sinh kế nông thôn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách: Các cơ quan thuộc Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể tham khảo trực tiếp các đề xuất lập pháp tại Chương 3 để sửa đổi, bổ sung quy định về phân bổ vốn ngân sách, hợp đồng mẫu PPP trong nông thôn và cơ chế quản lý các khoản đóng góp tự nguyện.
  • Chính quyền địa phương các cấp: Cung cấp căn cứ pháp lý giúp chính quyền cấp tỉnh, huyện, xã phân định rõ ranh giới thẩm quyền, thực hiện đúng quy chế dân chủ cơ sở, tránh ban hành các quyết định trái thẩm quyền gây lạm thu hoặc tạo ra nợ đọng xây dựng cơ bản.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân sách và Quản lý công có thể sử dụng Chương 1 làm khung lý luận về thể chế kinh tế nông thôn, và sử dụng Chương 2 làm cơ sở dữ liệu thực tiễn cho các nghiên cứu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới gồm những nguồn nào?

Căn cứ theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, luận án phân định nguồn vốn huy động cho Chương trình xây dựng NTM thành 4 nguồn chính thức:

  • Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, phân bổ theo chi đầu tư và chi thường xuyên).
  • Vốn tín dụng (gồm tín dụng thương mại từ các ngân hàng thương mại và tín dụng chính sách xã hội).
  • Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
  • Nguồn lực đóng góp của người dân và cộng đồng dân cư (bao gồm tiền mặt, hiện vật, tài sản, đất đai hiến tặng và ngày công lao động được quy đổi thành tiền).

2. Số liệu giai đoạn 2011–2020 phản ánh cơ cấu huy động các nguồn vốn như thế nào?

Theo báo cáo tổng kết 10 năm được luận án dẫn chiếu, cơ cấu nguồn vốn huy động trên cả nước trong giai đoạn 2011–2020 có sự chênh lệch rõ nét giữa các kênh:

  • Vốn tín dụng giữ vai trò chủ đạo, đạt 1.807 nghìn tỷ đồng, chiếm 56,90% tổng nguồn lực.
  • Vốn ngân sách nhà nước đạt 811.298 tỷ đồng, chiếm 28,35%.
  • Vốn đóng góp của doanh nghiệp đạt 147.738 tỷ đồng, chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn là 5,00%.
  • Nguồn lực từ người dân và cộng đồng dân cư đạt 246 nghìn tỷ đồng, chiếm phần tỷ trọng còn lại.

3. Nguyên nhân pháp lý nào dẫn tới tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản lên đến 15,2 nghìn tỷ đồng trong xây dựng NTM?

Luận án chỉ ra nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ những lỗ hổng và sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật:

  • Thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm pháp lý của chính quyền địa phương trong việc phê duyệt dự án khi chưa bảo đảm chắc chắn về nguồn vốn cân đối.
  • Áp lực chạy theo chỉ tiêu đạt chuẩn 19 tiêu chí NTM trong khi ngân sách phân bổ không đủ, dẫn đến việc địa phương phê duyệt ồ ạt các công trình cơ sở hạ tầng vượt quá khả năng chi trả.
  • Thiếu chế tài xử lý người đứng đầu có thẩm quyền quyết định đầu tư công không hiệu quả; các quy định về huy động vốn tự nguyện từ cộng đồng chưa chặt chẽ, dẫn đến việc dự toán dựa trên nguồn đóng góp không có tính khả thi.

4. Luận án đề xuất giải pháp pháp lý gì để giải quyết tình trạng lạm thu đối với người dân?

Luận án đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về quy trình tổ chức lấy ý kiến và mức độ đồng thuận của người dân tại thôn, xã trước khi quyết định dự án có vốn đóng góp.
  • Nghiêm cấm chính quyền cấp xã ban hành các văn bản hành chính quy định mức đóng góp cào bằng, bắt buộc theo nhân khẩu hoặc theo hộ gia đình; mọi khoản đóng góp phải tuân thủ triệt để nguyên tắc tự nguyện thực chất.
  • Tăng cường địa vị pháp lý và quyền kiểm tra, giám sát của Ban thanh tra nhân dân và Ban giám sát đầu tư cộng đồng, bảo đảm việc quản lý và công khai toàn bộ tài chính, hiện vật do nhân dân đóng góp.

5. Kinh nghiệm huy động vốn nông thôn từ quốc tế nào được luận án nhấn mạnh có khả năng ứng dụng tại Việt Nam?

Luận án nhấn mạnh hai kinh nghiệm then chốt:

  • Mô hình Saemaul Undong của Hàn Quốc: Cơ chế nhà nước chỉ cung cấp miễn phí nguyên vật liệu cơ bản (xi măng, sắt thép) như nguồn vốn mồi, còn việc lập kế hoạch, lựa chọn công trình và thực hiện hoàn toàn do dân làng tự bàn bạc, tự quyết định và tự quản lý, từ đó loại bỏ tư tưởng ỷ lại vào ngân sách cấp trên.
  • Mô hình PPP tại Mỹ và Anh: Nhà nước thiết lập khung khổ pháp lý minh bạch, chia sẻ rủi ro doanh thu và chấp nhận phần vốn đầu tư của nhà nước cao hơn phần vốn của tư nhân đối với các công trình hạ tầng công cộng tại địa bàn nông thôn nhằm thu hút các doanh nghiệp tham gia.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoàng Yến là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, tiếp cận vấn đề huy động vốn xây dựng nông thôn mới dưới giác độ khoa học luật kinh tế. Bằng việc phân tích lý luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh 4 nguồn vốn cùng số liệu thực tiễn giai đoạn 2011–2020 và kinh nghiệm quốc tế, tác giả đã làm rõ các nguyên nhân thể chế dẫn đến những bất cập trong việc phân bổ vốn và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Các định hướng và giải pháp lập pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn bền vững tại Việt Nam.