Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Chu Trọng Trí, chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số: 9 31.06), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Ngô Xuân Bình và PGS.TS. Nguyễn Huy Hoàng, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2023.
Về tính cấp thiết, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình chiến lược xuyên suốt của Việt Nam, thể hiện qua việc tham gia hàng loạt định chế thương mại khu vực và toàn cầu như Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Vương quốc Anh (UKVFTA). Trong các tiến trình đàm phán thương mại tự do, dệt may luôn là nội dung trọng tâm và là ngành được đánh giá có tiềm năng thu được lợi ích kinh tế lớn nhất. Việt Nam giữ vị trí là nhà xuất khẩu dệt may lớn thứ tư thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh), đồng thời là quốc gia duy nhất duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn suy giảm kinh tế toàn cầu 2008–2014. Tại thị trường Hoa Kỳ, thị phần dệt may Việt Nam tăng từ mức hơn 1% năm 2005 lên hơn 10% năm 2015, chiếm 45% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Thu nhập bình quân của lao động dệt may tăng từ 50 triệu đồng năm 2015 lên hơn 80 triệu đồng năm 2019.
Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam tồn tại nhiều điểm nghẽn căn bản: tỷ lệ nội địa hóa nguyên liệu thấp, phụ thuộc lớn vào nguồn cung nhập khẩu; năm 2015 nhập khẩu 7,8 tỷ USD nguyên liệu vải (chiếm 58% tổng nhu cầu vải đầu vào), đến năm 2019 con số nhập khẩu vải tăng lên 11,4 tỷ USD. Các khâu tạo giá trị gia tăng cao như thiết kế, thương hiệu, kênh phân phối còn hạn chế; mô hình kinh doanh chủ yếu là gia công cắt may (CMT). Về quy mô, trong tổng số hơn 6.000 doanh nghiệp (theo số liệu VITAS) hoặc hơn 8.450 doanh nghiệp (theo số liệu Bộ Công Thương, tính cả hộ cá thể), có đến 90% là doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa dưới 500 lao động. Khi tham gia các FTA thế hệ mới với những quy định nghiêm ngặt về quy tắc xuất xứ, rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn phát triển bền vững, ngành đối diện áp lực cạnh tranh gay gắt.
Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu các mặt hàng dệt may của Việt Nam giai đoạn 2009–2021, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang tham gia.
- Phân tích những cơ hội, khó khăn và thách thức mà xuất khẩu dệt may Việt Nam đối mặt trong quá trình thực thi các FTA thế hệ mới.
- Đánh giá triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may trong bối cảnh mới.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hình thành các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2021 (mốc thời gian bắt đầu khi Việt Nam khởi động tham gia đàm phán TPP với tư cách quan sát viên đặc biệt năm 2009, chính thức tham gia tháng 11/2010 tại Hội nghị Cấp cao APEC ở Yokohama, đàm phán EVFTA từ năm 2012, cho đến khi các hiệp định CPTPP, EVFTA, UKVFTA có hiệu lực và được triển khai thực thi đến tháng 10/2022).
- Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt Nam và các thị trường xuất khẩu trọng điểm thuộc khối các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Phạm vi nội dung: Phân tích quy mô, kim ngạch, thị trường và cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu gắn liền với các cam kết cụ thể trong CPTPP, EVFTA và UKVFTA.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước theo ba nhóm nội dung chính:
Nhóm thứ nhất, các nghiên cứu về sản xuất, xuất khẩu và chuỗi giá trị dệt may Việt Nam:
- Phạm Thị Thu Phương (2000) hệ thống hóa lý luận và thực tiễn sản xuất dệt may Việt Nam thời kỳ đổi mới, chỉ ra rào cản tự chủ nguyên phụ liệu và đề xuất phát triển mạng lưới cung ứng đầu vào.
- Dương Đình Giám (2001) phân tích thực trạng ngành dệt may trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chỉ ra thành tựu và nguyên nhân yếu kém nội tại.
- Nguyễn Hoàng Giang (2014) tiếp cận góc độ chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu doanh nghiệp cho dệt may Việt Nam.
- Trần Thị Bích (2017) nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may; Phùng Quỳnh Trang (2017) tiếp cận mối quan hệ giữa sản xuất dệt may và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
- Về chuỗi giá trị: Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies (2000) sử dụng phân tích SWOT chỉ ra ngành dệt may Việt Nam nằm ở vùng trũng của chuỗi giá trị toàn cầu do phụ thuộc đối tác nước ngoài và thiếu lao động kỹ thuật; Gereffi và Memedovic (2003) phân tích lý thuyết chuỗi giá trị dệt may ở các nước đang phát triển; Nadvi & Thoburn (2003) phân tích tác động của toàn cầu hóa lên doanh nghiệp may Việt Nam; Goto và cộng sự (2011, 2012, 2013) phân tích thách thức từ Trung Quốc đối với nguồn cung nguyên liệu và vai trò của nhà thầu phụ tại Thành phố Hồ Chí Minh; Jacobs và cộng sự (2016) so sánh Việt Nam và Bangladesh; Vu and Pham (2016), Pelzman and Sholam (2010) so sánh lợi thế cạnh tranh giữa dệt may Việt Nam và Trung Quốc; Cox (2015), Hoang and Jones (2012) nghiên cứu về quan hệ công nghiệp và điều kiện của lao động nữ trong ngành may; Nguyễn Hoàng (2009), Đỗ Thị Đông (2011), Hà Văn Hội (2012), Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary (2019), Nguyễn Thị Lan (2016), Ngô Dương Minh (2017), Nguyễn Văn Quang (2020) nghiên cứu năng lực cạnh tranh, mạng lưới liên kết và giải pháp nâng cấp vị trí của dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm thứ hai, các nghiên cứu về sự hình thành các FTA thế hệ mới và tiến trình hội nhập của Việt Nam:
- Tiêu Hải Vân (2021), Nguyễn Tuấn Việt và Ngô Văn Vũ (2019), Nghiêm Xuân Khoát (2019) phân tích nội dung EVFTA và nhận định dệt may là ngành hưởng lợi lớn nhất.
- Báo cáo của World Bank (2020), Eurocham Vietnam (2019) lượng hóa lợi ích kinh tế, lộ trình cắt giảm thuế quan và khả năng tiếp cận dịch vụ từ EVFTA.
- Đại sứ quán Việt Nam tại Anh (2020) và Bộ Công Thương (2020) phân tích bối cảnh ký kết UKVFTA nhằm tránh gián đoạn thương mại song phương sau Brexit (31/12/2020).
- Nguyễn Bình Dương (2016), Vũ Thanh Hương (2017), Vũ Nhữ Thăng và Trần Thị Thu Huyền (2022) phân tích tác động của việc giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan tới thương mại Việt Nam.
Nhóm thứ ba, các nghiên cứu về tác động của các FTA thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may:
- Dự án NEU - JICA (2004) phân tích các phương thức xuất khẩu của dệt may Việt Nam (gia công và xuất khẩu trực tiếp).
- Hoàng Thu Hằng và cộng sự (2018), Võ Thanh Thu và cộng sự (2016) sử dụng mô hình WITS-SMART dự báo xuất khẩu may mặc sang EU tăng 42% trong vòng 8 năm do hiệu ứng chệch hướng thương mại.
- Thắng (2018) dùng mô hình WITS-SMART đánh giá tác động giảm thuế của EVFTA đối với ngành giày dép.
- Lu (2018) sử dụng mô hình CGE đánh giá tác động của CPTPP và EVFTA, chỉ ra rằng việc xóa bỏ thuế quan đối với tất cả các ngành làm tỷ trọng việc làm của ngành may giảm từ 4,0% xuống 3,5% do cạnh tranh lao động với các ngành khác.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Bình Dương và cộng sự (2015), Lê Trung Ngọc Phát và Nguyễn Kim Hạnh (2019), Nguyễn Thành Công và Phạm Hồng Nhung (2017), Võ Văn Thọ (2016), Phạm Thị Lụa (2014), Trần Thị Thuận Giang và Ngô Nguyễn Thảo Vi (2017), Nguyễn Xuân Thọ (2019), Phan Thanh Hoàn (2017), Phạm Thùy Linh và cộng sự (2017), Hoàng Văn Châu (2014), Nguyễn Hoàng Khởi và Lưu Tiến Thuận (2015), Ngô Thị Hải Xuân (2012), Đỗ Thị Hòa Nhã và cộng sự (2019), Nguyễn Thị Cẩm Loan (2014), Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân (2015), Nguyễn Thị Thúy (2014) làm rõ các khía cạnh về quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi", rào cản kỹ thuật và sự chuẩn bị của doanh nghiệp dệt may trước thềm TPP/CPTPP và EVFTA.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm:
- Thứ nhất, các công trình trước chưa tổng kết, hệ thống hóa sự khác biệt bản chất giữa FTA truyền thống và FTA thế hệ mới gắn với các điều khoản điều chỉnh trực tiếp ngành dệt may.
- Thứ hai, phần lớn nghiên cứu trước phân tích bối cảnh gia nhập WTO hoặc giai đoạn đầu đàm phán, chưa đi sâu đánh giá thực trạng xuất khẩu khi đồng thời thực thi các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, UKVFTA).
- Thứ ba, các công trình chưa có sự thống nhất về đánh giá triển vọng và tác động của FTA thế hệ mới đối với dệt may; đặc biệt thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về tác động của UKVFTA đối với hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Anh sau Brexit.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các lý thuyết kinh tế thương mại quốc tế:
- Lý thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1776, tác phẩm Tài sản quốc gia): Phê phán chủ nghĩa trọng thương, ủng hộ tự do hóa thương mại; các quốc gia phân công lao động và sản xuất mặt hàng có chi phí thấp nhất để tối ưu hóa lợi ích và phúc lợi xã hội.
- Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo (1817, tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa, kế thừa ý tưởng từ Robert Torrens năm 1815): Thương mại quốc tế vẫn diễn ra khi một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối; quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có chi phí cơ hội thấp hơn.
- Mô hình Heckscher – Ohlin (mô hình H-O do Eli Heckscher năm 1919 và Bertil Ohlin phát triển): Thương mại giữa các nước dựa trên mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất (vốn, lao động); quốc gia dồi dào lao động như Việt Nam tập trung sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng thâm dụng lao động như dệt may, giày da.
- Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990): Sử dụng mô hình Kim cương gồm bốn nhóm yếu tố tương tác: (1) Điều kiện về các yếu tố sản xuất; (2) Điều kiện về cầu nội địa; (3) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; (4) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành; chịu sự chi phối của hai biến số ngoại sinh là Chính phủ và Cơ hội kinh doanh. Khả năng cạnh tranh của quốc gia thể hiện qua năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành công nghiệp.
- Khung lý thuyết chuỗi giá trị và phương thức sản xuất ngành dệt may: Phân chia các phương thức sản xuất từ cấp thấp đến cấp cao: CMT (Cut - Make - Trim: gia công cắt may), FOB (Free On Board: chủ động mua nguyên liệu, sản xuất), ODM (Original Design Manufacturing: tự thiết kế và sản xuất mẫu), OBM (Original Brand Manufacturing: sở hữu thương hiệu và mạng lưới phân phối).
- Lý thuyết về Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Xác định FTA thế hệ mới là hiệp định thương mại tự do thế kỷ 21, có phạm vi cam kết rộng hơn các FTA truyền thống; ngoài việc cắt giảm thuế quan sâu (thường trên 90–99% dòng thuế), hiệp định tích hợp các cam kết phi thuế quan, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, lao động, môi trường và quy tắc xuất xứ chặt chẽ.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk research) giữ vai trò chủ đạo: Luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu, thống kê mô tả và so sánh kinh tế để đánh giá diễn biến kim ngạch, thị trường và cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá có hệ thống Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Thách thức (Threats) của ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh thực thi FTA thế hệ mới.
- Phương pháp khảo sát hiện trường: Luận án sử dụng phiếu điều tra khảo sát để thu thập ý kiến trực tiếp của người dân và doanh nghiệp xuất khẩu dệt may về nhận thức đối với các FTA thế hệ mới, đánh giá cơ hội, thách thức và thứ tự ưu tiên các giải pháp hỗ trợ từ Nhà nước.
Nguồn dữ liệu:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UN Comtrade), Bộ Công Thương, VCCI, Eurocham và Ngân hàng Thế giới.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua kết quả điều tra khảo sát hiện trường từ các doanh nghiệp dệt may và người dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nội dung chính: tình hình sản xuất và xuất khẩu dệt may Việt Nam; sự hình thành các FTA thế hệ mới; tác động của các FTA thế hệ mới tới xuất khẩu dệt may. Các công trình trước đã khẳng định vai trò của ngành dệt may trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa của quốc gia dồi dào lao động, đồng thời nhận diện vị trí của Việt Nam ở phân khúc giá trị gia tăng thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Chương này chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu vắng các đánh giá tổng thể khi các FTA thế hệ mới đồng thời đi vào thực thi, đặc biệt là tác động của Hiệp định UKVFTA đối với hàng dệt may Việt Nam tại thị trường Anh.
Chương 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 2 làm rõ các khái niệm căn bản: xuất khẩu hàng hóa (theo Điều 28, Khoản 1 Luật Thương mại 2005); đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành dệt may (tính thời vụ, tính thời trang cao, phụ thuộc vào thị hiếu và gắn liền với thương hiệu, công nghệ sử dụng nhiều lao động). Chương này trình bày có hệ thống bốn học thuyết kinh tế thương mại (Adam Smith, David Ricardo, Heckscher - Ohlin, Michael Porter) và các phương thức sản xuất dệt may (CMT, FOB, ODM, OBM). Đồng thời, tác giả luận giải bản chất của FTA thế hệ mới, so sánh với FTA truyền thống về phạm vi và mức độ cam kết. Thông qua kết quả khảo sát bước đầu (Hình 2.1), chương 2 phản ánh nhận định của người dân và doanh nghiệp về các cơ hội kinh tế khi Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới.
Chương 3. Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 3 khái quát tiến trình đàm phán và thực thi các FTA thế hệ mới của Việt Nam: khởi động đàm phán TPP năm 2009 và ký CPTPP năm 2018; khởi động kỹ thuật EVFTA năm 2010, đàm phán chính thức năm 2012 và có hiệu lực từ tháng 8/2020; đàm phán và ký kết UKVFTA năm 2020 để bảo đảm dòng chảy thương mại sau Brexit.
Dựa trên số liệu thống kê giai đoạn 2009–2021, luận án phản ánh bức tranh tăng trưởng kim ngạch, biến động thị trường và cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu qua các bảng thống kê và biểu đồ:
| Bảng / Hình trong luận án |
Nội dung số liệu phản ánh |
Dữ liệu và chỉ số chính trong văn bản |
| Bảng 3.1 |
Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2009–2021 |
Ghi nhận tốc độ tăng trưởng liên tục, duy trì mức tăng hai con số giai đoạn 2008–2014. |
| Bảng 3.2 |
Tình hình xuất khẩu các sản phẩm của ngành dệt may năm 2020 |
Phân loại giá trị và tỷ trọng theo các nhóm hàng dệt và may mặc. |
| Bảng 3.3 |
Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU giai đoạn 2009–2021 |
Diễn biến xuất khẩu trước và sau khi EVFTA có hiệu lực (tháng 8/2020). |
| Bảng 3.4 |
Giá trị và tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may sang Vương quốc Anh (2009–2021) |
Đánh giá quy mô thương mại dệt may sang Anh trong giai đoạn chuyển tiếp Brexit và thực thi UKVFTA. |
| Bảng 3.5 & Bảng 3.6 |
Top 10 thị trường và các thị trường xuất khẩu chính giai đoạn 2009–2021 |
Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất (chiếm 45% tổng kim ngạch), tiếp theo là EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. |
| Bảng 3.7 & Bảng 3.8 |
Thị trường và chủng loại hàng dệt may xuất khẩu năm 2020 |
Tỷ trọng áp đảo thuộc về hàng may mặc cắt may, tỷ trọng vải và xơ sợi còn hạn chế. |
| Hình 3.1 & Hình 3.2 |
Nhập khẩu nguyên phụ liệu và tỷ lệ nguyên phụ liệu nhập khẩu trên xuất khẩu |
Nhập khẩu vải năm 2015 là 7,8 tỷ USD (chiếm 58% nhu cầu); năm 2019 là 11,4 tỷ USD. |
| Hình 3.3 |
Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu |
Việt Nam tập trung chủ yếu ở khâu gia công cắt may (CMT), giá trị gia tăng nội địa thấp. |
Chương 3 đi sâu đánh giá các cam kết cụ thể và tác động thực tế của từng hiệp định:
- Hiệp định CPTPP: Cam kết xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may kèm quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" (yarn forward), đòi hỏi toàn bộ quy trình từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm và may hoàn thiện phải thực hiện trong nội khối CPTPP.
- Hiệp định EVFTA: EU cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 71% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngay khi có hiệu lực và lên 99% sau 7 năm; quy tắc xuất xứ áp dụng là "từ vải trở đi" (fabric forward), kèm cơ chế cộng gộp xuất xứ nguyên liệu dệt may từ Hàn Quốc và Nhật Bản.
- Hiệp định UKVFTA: Duy trì các ưu đãi thương mại tương đương EVFTA trong khuôn khổ song phương giữa Việt Nam và Vương quốc Anh, bảo đảm hàng dệt may không bị áp thuế theo biểu thuế tối huệ quốc (MFN) sau khi Anh rời EU.
Chương 4. Định hướng và một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 4 phân tích các nhân tố tác động đến nhu cầu tiêu thụ dệt may thế giới, bao gồm tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 (Hình 4.1), xung đột thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc (Hình 4.2) và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng. Tác giả trình bày quan điểm, định hướng và các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may Việt Nam đến năm 2030 (Hình 4.3).
Luận án xây dựng ma trận phân tích SWOT đối với xuất khẩu dệt may:
- Điểm mạnh: Năng lực sản xuất lớn, tay nghề công nhân cao, chi phí lao động có tính cạnh tranh, môi trường chính trị ổn định.
- Điểm yếu: Nguồn cung nguyên phụ liệu phụ thuộc nhập khẩu; hơn 90% doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa dưới 500 lao động; chủ yếu sản xuất theo phương thức CMT; liên kết nội ngành giữa dệt, nhuộm và may còn lỏng lẻo; khâu thiết kế và thương hiệu yếu.
- Cơ hội: Thuế suất ưu đãi đưa về 0% theo lộ trình trong CPTPP, EVFTA, UKVFTA; thu hút vốn FDI vào khâu dệt nhuộm và phát triển công nghiệp hỗ trợ (Hình 4.4).
- Thách thức: Đáp ứng quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" và "từ vải trở đi"; các tiêu chuẩn kỹ thuật (TBT), tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn môi trường và phát triển xanh; rào cản phòng vệ thương mại; cạnh tranh lao động với các ngành kinh tế khác (Hình 4.5, Hình 4.6). Kết quả điều tra cũng phản ánh mức độ hiểu biết của người dân và doanh nghiệp về FTA thế hệ mới còn hạn chế (Hình 4.7).
Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm hai nhóm:
- Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía Nhà nước: Quy hoạch các khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn; ban hành chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may; thu hút dòng vốn FDI có chọn lọc vào khâu sản xuất sợi, vải chất lượng cao; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, quy trình cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); tăng cường cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ pháp lý về phòng vệ thương mại (Hình 4.8).
- Nhóm giải pháp vi mô từ phía doanh nghiệp: Chuyển dịch phương thức sản xuất từ CMT sang FOB, ODM và OBM; chủ động tìm kiếm và đa dạng hóa nguồn cung nguyên phụ liệu nội khối FTA để đáp ứng quy tắc xuất xứ; đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa; thực hiện chứng nhận tiêu chuẩn lao động và môi trường bền vững (ESG); tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp trong ngành (Hình 4.9, Hình 4.10).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về xuất khẩu dệt may trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chỉ rõ đặc điểm khác biệt giữa FTA truyền thống và FTA thế hệ mới về phạm vi điều chỉnh, mức độ cam kết phi thuế quan và quy tắc xuất xứ.
- Vận dụng mô hình kim cương của Michael Porter và lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế thế hệ mới.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh phân tích toàn diện, có hệ thống về thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2009–2021, làm rõ sự biến động về quy mô kim ngạch, chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu sang các khối CPTPP, EU và Vương quốc Anh.
- Chỉ rõ thực trạng mất cân đối nghiêm trọng trong chuỗi sản xuất dệt may Việt Nam thông qua số liệu định lượng về mức độ phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu (năm 2015 nhập 7,8 tỷ USD vải - chiếm 58%; năm 2019 nhập 11,4 tỷ USD vải) và cấu trúc quy mô doanh nghiệp (90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới 500 lao động).
- Phân tích cụ thể các cam kết về thuế quan và quy tắc xuất xứ của từng hiệp định (quy tắc "từ sợi trở đi" trong CPTPP, quy tắc "từ vải trở đi" trong EVFTA và cơ chế duy trì trong UKVFTA) tác động trực tiếp tới khả năng tận dụng ưu đãi của doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
- Kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực địa để lượng hóa nhận định của doanh nghiệp về cơ hội, thách thức và thứ tự ưu tiên các chính sách hỗ trợ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ ở cấp độ vĩ mô (Nhà nước) và cấp độ vi mô (doanh nghiệp) nhằm tháo gỡ điểm nghẽn nguyên phụ liệu, thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất từ CMT sang FOB, ODM, OBM và nâng cao giá trị gia tăng cho xuất khẩu dệt may đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án dừng lại ở mốc số liệu năm 2021 (cập nhật bối cảnh đến tháng 10/2022). Do các hiệp định EVFTA (có hiệu lực từ tháng 8/2020) và UKVFTA (ký kết cuối năm 2020) mới đi vào thực thi trong thời gian ngắn và diễn ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19, chuỗi số liệu thực tế để đánh giá tác động dài hạn của các hiệp định này còn bị giới hạn.
- Mẫu khảo sát hiện trường tập trung vào các nhóm doanh nghiệp và người dân nhất định, chưa bao quát toàn bộ các phân ngành chuyên sâu của chuỗi giá trị dệt may trên cả nước.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục cập nhật và phân tích chuỗi dữ liệu xuất khẩu dệt may giai đoạn sau năm 2022, khi lộ trình cắt giảm thuế quan của EVFTA và CPTPP bước vào giai đoạn sâu hơn.
- Mở rộng đánh giá tác động dài hạn của Hiệp định UKVFTA đối với thương mại dệt may Việt Nam - Anh trong điều kiện kinh tế bình thường hậu đại dịch và hậu Brexit.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của các tiêu chuẩn xanh, kinh tế tuần hoàn và cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của các thị trường nhập khẩu phát triển đối với hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan quản lý hải quan và xúc tiến thương mại): Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển vùng công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung và hoàn thiện cơ chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp với từng FTA.
- Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Sử dụng các phân tích ma trận SWOT và kết quả điều tra thực địa để xây dựng các chương trình đào tạo, hỗ trợ kết nối chuỗi cung ứng giữa các doanh nghiệp sợi - dệt - nhuộm - may.
- Doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu dệt may: Tham khảo phân tích về quy tắc xuất xứ của CPTPP, EVFTA, UKVFTA để xây dựng chiến lược chuyển đổi phương thức sản xuất từ CMT sang FOB/ODM, tối ưu hóa chuỗi cung ứng nguyên liệu nhằm đáp ứng điều kiện hưởng thuế suất ưu đãi 0%.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị và hệ thống dữ liệu kinh tế thương mại về ngành hàng dệt may Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm nghẽn lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia các FTA thế hệ mới là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu thấp và sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu bên ngoài. Dữ liệu luận án chỉ ra năm 2015 Việt Nam phải nhập khẩu 7,8 tỷ USD nguyên liệu vải (chiếm 58% tổng giá trị vải đầu vào của toàn ngành); năm 2019 kim ngạch nhập khẩu vải lên tới 11,4 tỷ USD. Phần lớn doanh nghiệp tập trung ở khâu cắt may (CMT), thiếu các khâu dệt, nhuộm, tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng trong chuỗi sản xuất.
2. Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định CPTPP và EVFTA khác nhau như thế nào đối với hàng dệt may?
Hiệp định CPTPP áp dụng quy tắc xuất xứ "từ sợi trở đi" (yarn forward), yêu cầu tất cả các công đoạn từ kéo sợi, dệt vải, nhuộm, hoàn tất và may mặc phải được thực hiện trong nội khối các nước thành viên CPTPP. Trong khi đó, Hiệp định EVFTA áp dụng quy tắc xuất xứ "từ vải trở đi" (fabric forward), cho phép nhập khẩu sợi ngoài khối nhưng công đoạn dệt vải và may mặc phải thực hiện tại Việt Nam hoặc EU, kèm cơ chế cộng gộp xuất xứ nguyên liệu dệt may từ Hàn Quốc và Nhật Bản.
3. Vì sao việc ký kết Hiệp định UKVFTA có ý nghĩa quan trọng đối với xuất khẩu dệt may Việt Nam?
Khi Vương quốc Anh chính thức rời Liên minh châu Âu (Brexit) và kết thúc giai đoạn chuyển tiếp vào ngày 31/12/2020, các ưu đãi thuế quan của EVFTA không còn áp dụng đối với thị trường Anh. Việc ký kết và thực thi UKVFTA bảo đảm duy trì liên tục các cam kết ưu đãi thương mại song phương tương đương EVFTA, giúp hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Anh tránh phải chịu mức thuế tối huệ quốc (MFN).
4. Khảo sát thực địa trong luận án chỉ ra những rào cản và kỳ vọng hỗ trợ nào từ phía doanh nghiệp?
Khảo sát hiện trường chỉ ra rằng phần lớn người dân và doanh nghiệp còn hạn chế về mức độ hiểu biết chi tiết các cam kết FTA thế hệ mới; doanh nghiệp đối mặt với thách thức lớn về rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường và chứng minh xuất xứ. Về thứ tự ưu tiên hỗ trợ từ Nhà nước, doanh nghiệp kỳ vọng nhất vào các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt nhuộm, quy hoạch mặt bằng xử lý chất thải và cải cách thủ tục hành chính, hả