CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1. Nội dung tổng quan 1. Các nghiên cứu về sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Ngành sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt Nam mặc dù có lịch sử phát triển chưa lâu và chỉ thực sự được biết đến rộng rãi kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, tuy nhiên với sự tăng trưởng bùng nổ cả về số lượng và chất lượng sản phẩm cho nên chủ đề về sản xuất dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng đặc biệt nhận được rất nhiều sự quan tâm của không chỉ giới làm chính sách, các nhà đầu tư và cả các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Chủ đề ngành dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu dệt may Việt Nam nói riêng theo đó được khai thác ở nhiều khía cạnh, trên nhiều góc độ khác nhau, từ chủ trương chính sách, chiến lược phát triển, đến các vấn đề liên quan đến thành tựu, thất bại, hạn chế, cũng như hạn chế triển vọng trong tương lai. Trong khuôn khổ của luận án, nghiên cứu sinh sẽ tập trung tổng quan các công trình tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất và liên quan gần nhất đến đề tài nghiên cứu, qua đó, tổng quát hóa các vấn đề đã nghiên cứu và tìm ra khoảng trống nghiên cứu. Một trong những công trình tiêu biểu đầu tiên đề cập đến các vấn đề của ngành sản xuất dệt may Việt Nam là tác phẩm của tác giả Phạm Thị Thu Phương (2000). Trong cuốn sách chuyên khảo này, tác giả đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn sản xuất dệt may của Việt Nam kể từ khi đất nước đổi mới đến những năm cuối thế kỷ 20.
Thông qua việc phân tích tình hình thực tế, xem xét bối cảnh trong nước và quốc tế, và đồng thời khảo sát kinh nghiệm phát triển của các quốc gia đi trước, tác giả đã phần nào hệ thống hóa được chiến lược nâng cao hiệu quả phát triển của ngành dệt may Việt Nam. Thông qua đó, tác giả đưa ra một số giải pháp căn cơ ở trên cả hai 9 cấp độ vĩ mô (nhà nước) và vi mô (doanh nghiệp) nhằm nâng cao hiệu quả của ngành dệt may trong thời kỳ hội nhập mới của thế kỷ 21. Trong tác phẩm, tác giả mặc dù đánh giá cao tiềm tăng phát triển của ngành dệt may Việt Nam, tuy nhiên, để có thể tiến xa trong cuộc chơi toàn cầu, tác giả nhấn mạnh đến hạn chế cố hữu của ngành sản xuất dệt may, đó là rào cản về tự chủ đối với nguyên vật liệu đầu vào của ngành. Từ đó, tác giả cho rằng xây dựng và phát triển mạng lưới cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là việc làm tối quan trọng để có thể dẫn tới những thành công trong tương lai.
Công trình của tác giả Dương Đình Giám (2001) cũng được xem là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích trong giai đoạn đầu của tiến trình xây dựng ngành dệt may, đặc biệt đặt trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tác giả Dương Đình Giám đầu tiên tập trung chủ yếu vào việc phân tích thực trạng của ngành dệt may Việt Nam, sau đó, dựa trên trực trạng và bối cảnh chung, tác giả đã nêu bật được những thành tựu và hạn chế của ngành sản xuất dệt may. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới những kết quả đạt được, và những nguyên nhân còn tồn tại gây ra sự yếu kém của sản xuất dệt may của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành dệt may của Việt Nam.
Không quá khó để nhận ra, công trình nghiên cứu này của Dương Đình Giám có nhiều đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn, tuy nhiên chưa thoát khỏi giới hạn phạm vi và lối nguyên cứu truyền thống là việc xem xét thực trạng, phân tích hạn chế, và đưa ra giải pháp, cái đã được đề cập trong rấ nhiều các nghiên cứu trước đó. Cũng đề cập đến vấn đề chung của ngành dệt may Việt Nam, tuy nhiên Nguyễn Hoàng Giang (2014) lại tiếp cận dưới góc độ chiến lược thương hiệu. Tác giả cho rằng dù sản xuất dệt may của Việt Nam có đạt được nhiều thành tựu về số lượng lẫn chất lượng nhưng nếu không có tầm nhiền chiến lược về thương hiệu thì sẽ luôn bị thiệt thòi trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ với các thương hiệu mạnh đến từ các quốc gia khác. Dựa trên việc xem xét tình hình thực tế của việc xây dựng thương hiệu ở cấp quốc gia và cấp doanh 10 nghiệp hiện nay của Việt Nam, tác giả luận giải một số giải pháp với mong muốn xác lập địa vị cho thương hiệu ngành dệt may Việt Nam trên bản đồ dệt may thế giới.
Trần Thị Bích trong bài viết “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam” trên Tạp chí Quản lý Kinh tế Quốc tế số 95 năm 2017 quan tâm đến vấn đề đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may. Tác giả tiếp cận ngành dệt may dưới góc độ chỉ tiêu, có nghĩa là phân tích cách thức đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp dệt may: dựa vào tốc độ tăng trưởng, khả năng áp dụng công nghệ, chất lượng sản phẩm, hoặc sức mạnh thương hiệu. Tác giả kết luận rằng việc đánh giá hiệu quả doanh nghiệp dệt may cần phải được xem xét trong bối cảnh tổng thể của nhiều yếu tố, doanh nghiệp cần đồng thời thực hiện nó. Do đó, chúng ta cần xây dựng bộ chỉ tiêu chung làm thước đo tiêu chuẩn trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may.
Phùng Quỳnh Trang (2017) trong bài viết của mình tiếp cận sản xuất ngành sản xuất dệt may dưới góc độ sản xuất đi liền với các vấn đề về môi trường. Tác giả khẳng định việc tăng trưởng sản xuất cần phải gắn liền với môi trường bền vững, nghĩa là việc sản xuất phải được xem xét bao gồm các yếu tố bảo vệ môi trường. Tác giả cho rằng ngành dệt may là ngành có mức độ gây ô nhiễm cao, tác động trực tiếp đến không chỉ hệ sinh thái tự nhiên và cả đời sống của con người. Do đó, phát triển ngành dệt may bền vững (năng lực cạnh tranh) của ngành dệt may phải được gắn mật thiết với các giải pháp sản xuất sạch và thân thiệt với môi trường.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu và các báo cáo chuyên đề ở những khía cạnh khác nhau cũng nghiên cứu về xuất khẩu dệt may và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam. Xuất khẩu dệt may đóng vai trò quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam cũng như ngành mũi nhọn tiên phong giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các định chế thương mại khu vực thế giới. Số liệu thống kê về xuất khẩu dệt may Việt Nam cho thấy những con số tăng trưởng khá cao không chỉ về số lượng và chất lượng, mà còn cả sức 11 mạnh của thương hiệu, nhưng giá trị tăng của xuất khẩu dệt may lại không tương đồng với bức tranh sôi động đó. Điều này được lý giải bởi thực tế là Việt Nam hiện vẫn đang ở trong vị trí thấp trong chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu.
Xuất phát từ nguyên nhân đó, có nhiều nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích xuất khẩu dệt may và chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu, nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và giá trị thực tế mà ngành dệt may của Việt Nam nhận được. Công trình nghiên cứu do nhóm tác giả Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies (2000) là một trong những tác phẩm đầu tiên đi nghiên cứu sâu về ngành dệt may Việt Nam. Bài viết đã đưa ra một bức tranh khái quát tình hình sản xuất của ngành dệt may Việt Nam trong quá trình chuyển đổi lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Oteifa và cộng sự tìm hiểu những khó khăn liên quan đến hoạt động tác nghiệp và marketing của những doanh nghiệp may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất những hỗ trợ của Chương trình phát triển dự án Mekong (MPDF) dành cho các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam.
Bằng kỹ thuật phân tích SWOT, nghiên cứu chỉ ra rằng ngành dệt may của Việt Nam đang nằm ở vùng trũng của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân bản than nội tại của ngành dệt trong nước thiếu tính cạnh tranh, đặc biệt là tính cạnh tranh khu vực và toàn cầu; bên cạnh đó, quá phụ thuộc vào các đối tác nước ngoài trong các hoạt động xuất khẩu. Một trong những nguyên nhân chủ chốt nữa là việc ngành dệt may của Việt Nam là tình trạng thiếu lực lượng lao động lành nghề trong hầu như tất cả các khâu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc hạn chế trong tiếp cận thông tin và tiếp cận thị trường nước ngoài cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng chuyển lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị ngành dệt may toàn cầu của Việt Nam.
Dựa trên nhưng phân tích đó, các tác giả kết luận Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu dệt may, tuy nhiên để chuyển đổi thành công trong chuỗi giá trị ngành dệt may, Việt Nam cần tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các biện phát xúc 12 tiến đầu tư có hiệu quả hơn, chủ động trong việc tiếp cận thông tin thị trường và đối tác. Nghiên cứu quá trình chuyển đổi các mối quan hệ công nghiệp ở các nước đang phát triển, Cox (2015) lấy trường hợp ngành dệt may của Việt Nam làm trường hợp nghiên cứu điển hình. Tác giả cho rằng mối quan chuyển đổi công nghiệp ở Việt Nam có tác động rất hạn chế lên vai trò và vị thế của liên đoàn lao động. Nghiên cứu chỉ ra sự sung đột gia tăng giữa người lao động và doanh nghiệp dệt may, mối quan hệ này có xu hướng gia tăng do những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa nhanh và sự chuyển đổi xã hội từ nông nghiệp sang công nghiệp trong thời gian ngắn.
Nghiên cứu kết luận rằng điều kiện làm việc và tiếng nói đại diện của công nhân hoạt động trong ngành dệt may cần phải được cải thiện hơn trong quá trình chuyển đổi.