Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 6 Luan van CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về xây dựng Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở. Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lƣợng lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tƣợng khách hàng riêng biệt.
Tại những nƣớc phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp từ 6-9% tổng sản phẩm nội địa. Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đƣa vào sử dụng.8-10] Mặc dù hoạt động này thƣờng đƣợc xem là riêng lẻ, song trong thực tế, đó là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố. Đầu tiên, một nhà quản lý dự án chịu trách nhiệm quản lý công việc chung, sau đó những nhà thầu, kỹ sƣ tƣ vấn thiết kế, kỹ sƣ thi công, kiến trúc sƣ, tƣ vấn giám sát. chịu trách nhiệm điều hành, thực hiện và giám sát hoạt động của dự án.
Một dự án thành công đòi hỏi một kế hoạch xây dựng hiệu quả, bao gồm việc thiết kế và thi công đảm bảo phù hợp với địa điểm xây dựng và đúng với ngân sách đề ra trong dự toán; tổ chức thi công hợp lý, thuận tiện cho việc chuyên chở, lƣu trữ vật liệu xây dựng; đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trƣờng, an toàn lao động; giảm thiểu những ảnh hƣởng tới cộng đồng. [12], [47] Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tƣ xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự 7 Luan van án đầu tƣ xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Khái niệm về đô thị Xã hội ngày càng văn minh và hiện đại thì nhu cầu về cuộc sống của con ngƣời càng đa dạng. Dƣới tác động của phân công lao động xã hội, một bộ phận ngƣời lao động đã tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để chuyên làm nghề thủ công buôn bán, dịch vụ.
Những ngƣời này cùng gia đình họ hình thành nên các điểm dân cƣ sống tập trung trên một địa bàn hẹp. Họ lao động và sinh hoạt theo những hình thức khác so với sinh hoạt truyền thống ở nông thôn. Đây chính là mầm mống đầu tiên của những đô thị và lối sống đô thị hiện nay. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đô thị: - Theo quan niệm quốc tế: Đô thị là một khu định cƣ đƣợc hình thành bởi quá trình tập trung dân cƣ từ nông thôn ra thành thị và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang phi nông nghiệp.7] - Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2015 Đô thị là khu vực tập trung dân cƣ sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.2-3] - Theo Giáo trình quản lý nhà nước về đô thị (2005) Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; họ sống và làm việc theo phong cách văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao.6] Nhƣ vậy, từ những quan niêm trên, để phù hợp với cách tiếp cận của luận văn, cần nghiên cứu đô thị theo định nghĩa: “ Đô thị là điểm tập trung 8 Luan van dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; có cơ sở hạ tầng thích hợp; là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện”.
Với cách tiếp cận này, có một số điểm cần lƣu ý nhƣ sau: - Đô thị là nơi có mật độ dân số cao hơn rất nhiều khu vực nông thôn. Tùy theo quy mô lãnh thổ, theo quốc gia mà dân số trong một đô thị có thể từ hàng nghìn ngƣời đến hàng triệu ngƣời. Ở nƣớc ta, quy mô dân số nội thị của một đô thị thƣờng không nhỏ hơn 4000 ngƣời, riêng miền núi không nhỏ hơn 2000 ngƣời. Do tập trung dân số với mật độ cao trên một diện tích đất đai hẹp, nên vấn đề bố trí không gian cho các loại hoạt động khác nhau, vấn đề bảo vệ môi trƣờng và vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng trong đô thị luôn là các vấn đề thƣờng trực của cơ quan quản lý đô thị.
- Đô thị có thể là trung tâm tổng hợp, hoặc trung tâm chuyên ngành, nhƣng bao giờ đô thị cũng là động lực phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật và văn hoá của vùng lớn bao quanh nó. Một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp của một vùng, một tỉnh, cũng có thể là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc. Việc xác định một đô thị là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. - Lãnh thổ đô thị bao gồm: Nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô.
- Dân cƣ trong đô thị chủ yếu sinh sống bằng nghề phi nông nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong nội thị của một đô thị thƣờng không thấp hơn 60%. 9 Luan van - Cơ sở hạ tầng đô thị, bao gồm hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thông tin liên lạc, cấp điện, cấp nƣớc, cấp năng lƣợng, thoát nƣớc, xử lý rác thải, vệ sinh môi trƣờng) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình thƣơng mại, dịch vụ công cộng, y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao, công viên cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác) quy định trình độ phát triển của đô thị. Khái niệm vi phạm hành chính Để thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhà nƣớc đã ban hành hệ thống các quy tắc xử xử buộc mọi công dân phải thực hiện.
Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm các quy tắc này vẫn thƣờng xuyên diễn ra và chúng đƣợc gọi chung là vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật chia ra các loại sau: vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật. Nhƣ vậy, vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện những hành vi đi ngƣợc lại với ý chí nhà nƣớc đƣợc quy định trong pháp luật.
Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm hình sự, nhƣng vi phạm hành chính là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nƣớc, của tập thể, cá nhân cũng nhƣ lợi ích chung của toàn thể cộng đồng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu nhƣ không đƣợc ngăn chặn và xử lý kịp thời. Ở một số nƣớc trên thế giới, vi phạm hành chính thƣờng đƣợc hiểu chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt 10 Luan van bằng các chế tài hành chính. Ví dụ Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca, Minnesota, định nghĩa VPHC là “hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…”. Luật về xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3) định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định”.
Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật xử phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga thì vi phạm hành chính đƣợc định nghĩa là “hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”. Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa này sau đó đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đƣa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không đƣợc định nghĩa riêng biệt nữa mà đƣợc đƣa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hành chính” đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2002.