CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi của cá nhân hay tổ chức đi ngược lại với ý chí của nhà nước, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, do vậy, cần thiết phải loại bỏ ra khỏi xã hội. Muốn thực hiện được điều này đòi hỏi bên cạnh việc phải hiểu rõ về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cũng cần tìm hiểu về vi phạm hành chính.Vi phạm hành chính 1. Khái niệm Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật hiện đang rất phổ biến trong đời sống xã hội của chúng ta.
Chúng xảy ra với mức độ gây nguy hiểm cho xã hội không lớn nhưng có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, cá nhân và tổ chức. Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm của vi phạm hành chính thì cần thiết phải đưa ra một khái niệm cụ thể về vi phạm hành chính, bên cạnh đó cần so sánh giữa vi phạm hành chính và tội phạm. Khái niệm vi phạm hành chính thường được xây dựng trên cơ sở khái niệm vi phạm pháp luật. Theo các nghiên cứu về lý luận nhà nước và pháp luật thì “vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”1.
Như vậy, có thể hiểu vi phạm hành chính là là hành vi trái pháp luật hành chính, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ. Về mặt pháp lý, vi phạm hành chính là một thuật ngữ được quy định trong nhiều văn bản khác nhau. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1989 thì: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một các cố ý hoặc vô 1. Nguyễn Minh Đoan (2010), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Chính trị Quốc gia, trang 428.
GVHD: Đỗ Thị Mai Thư 4 SVTH: Nguyễn Hoài Linh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ý xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” 2. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 không đưa ra khái niệm cụ thể về vi phạm hành chính mà chỉ quy định:“Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Tuy không quy định rõ vi phạm hành chính là như thế nào nhưng nó thể hiện đầy đủ nội dung khái niệm vi phạm hành chính ở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1989. Khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 cũng không nêu vi phạm hành chính là như thế nào mà chỉ quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (Sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của phám luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Hiện nay, khái niệm vi phạm hành chính được quy định trực tiếp tại Khoản 1, Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Mặc dù các khái niệm vi phạm hành chính qua các văn bản quy phạm pháp luật được quy định khác nhau nhưng nó vẫn thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm này. Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Điều 1, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1989.
GVHD: Đỗ Thị Mai Thư 5 SVTH: Nguyễn Hoài Linh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1. Đặc điểm của vi phạm hành chính Vi phạm hành chính có các đặc điểm sau: Một là, vi phạm hành chính xảy ra chủ yếu trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động được thực hiện ở nhiều lĩnh vực như: bảo vệ môi trường, thuế, hải quan, đất đai, giao thông đường bộ, hành chính,… Khi chủ thể có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý thì sẽ bị xử lý vi phạm.
Thẩm quyền quản lý nhà nước thuộc về những cơ quan nhà nước như Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, các cơ quan trực thuộc UBND,… Ví dụ: Một người điều khiển phương tiện giao thông có hành vi vượt đèn đỏ và bị Cảnh sát giao thông xử phạt vi phạm hành chính. Tức là họ đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Hai là, tính chất nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” 3.
Vi phạm hành chính là một dạng của vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó xác định, xử lý không khéo sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy như: để lọt tội phạm, làm oan người vô tội. Khoản 1, Điều 8 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) GVHD: Đỗ Thị Mai Thư 6 SVTH: Nguyễn Hoài Linh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Mức độ nguy hiểm cho xã hội là một trong những yếu tố xác định đâu là vi phạm hành chính, đâu là tội phạm hình sự và được đánh giá qua nhiều yếu tố khác nhau và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành. Việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm và vi phạm hành chính thường dựa vào: mức độ gây thiệt hại cho xã hội; mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm,… Ba là, chủ thể vi phạm là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính.
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính. Về mặt lý luận, điều kiện để cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính, bao gồm: - Khả năng nhận thức: Người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.4 - Độ tuổi: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.5 Những tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được quy định ở nhiều văn bản pháp luật, cụ thể: Tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý 4.
Trần Minh Hương (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. Trần Minh Hương (2008), tlđd, tr. Trần Minh Hương (2008), tlđd, tr. GVHD: Đỗ Thị Mai Thư 7 SVTH: Nguyễn Hoài Linh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy định:“Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định trong Nghị định này là hành vi cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật7”. Theo khái niệm này, chủ thể thực hiện hành vi được quy định cụ thể hơn so với khái niệm được đưa ra tại Nghị định số 182/2004/NĐ-CP. Tuy nhiên, Nghị định số 102/2014/NĐ-CP đang có hiệu lực không đưa ra khái niệm vi phạm hành chính ở lĩnh vực đất đai.