CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 1. Khái quát về xử lý chất thải rắn y tế 1. Khái quát về chất thải rắn y tế Khái niệm và phân loại chất thải rắn y tế Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (theo khoản 12 , Điều 3 , Luật BVMT). Trong thực tế thì chất thải hình thành, tồn tại từ nhiều nguồn phong phú và đa dạng.
Chất thải được phân loại tuỳ thuộc vào tiêu chí mà từ đó các tiêu chí khác nhau thì có những loại chất thải tương ứng. Theo tiêu chí dạng tồn tại của chất thải thì chia chất thải thành chất thải tồn tại dưới dạng lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn), khí (khí thải); Theo tiêu chí độ độc hại của chất thải thì có chất thải nguy hại (CTNH) và chất thải thông thường. Chất thải nguy hại chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, gây ăn mòn, gây ngộ độc, dễ cháy, dễ nổ, hoặc có đặc tính nguy hại khác [56]. Theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Và chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. Theo tiêu chí địa điểm sản sinh chất thải thì có chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải y tế (CTYT),… 11 Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Chất thải y tế là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà. Mỹ, định nghĩa CTYT là chất thải phát sinh trong quá trình nghiên cứu y học, chẩn đoán, tiêm chủng, xét nghiệm hoặc điều trị cho người hoặc động vật. Một số ví dụ như thủy tinh, băng gạc, găng tay, các vật dụng sắc nhọn đã bị loại bỏ như kim hoặc dao mổ, gạc và khăn giấy.
Việt Nam, theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về quản lý CTYT thì CTYT là “chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các CSYT, bao gồm CTYT nguy hại, CTYT thông thường và nước thải y tế”. Ngoài ra còn quy định “CSYT bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); CSYT dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học” [10]. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng CTNH, gồm chất thải lây nhiễm và CTNH không lây nhiễm, CTYT nguy hại chiếm từ 10-25% tổng lượng CTYT Trong đó: Chất thải lây nhiễm bao gồm: Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt, xuyên thủng như kim tiêm, bơm liền kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh, cưa, kim chọc dò, kim châm cứu… và các vật sắc nhọn khác; Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn là chất thải có thấm, dính, chứa 12 máu hoặc dịch sinh học của cơ thể người bệnh; hoặc từ buồng bệnh cách ly phát sinh; Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao như mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm và các dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm; Chất thải giải phẫu như mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm. - Chất thải nguy hại không lây nhiễm như: Các thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; Các hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; Các chất hàn răng amalgam thải bỏ; Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường về quản lý CTNH (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT).
Chất thải y tế thông thường là CTYT không gây ra những vấn đề nguy hiểm đặc biệt cho sức khỏe con người và môi trường, chiếm từ 75-90% tổng lượng CTYT, bao gồm: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong CSYT; Chất thải rắn thông thường phát sinh từ CSYT không thuộc Danh mục CTYT nguy hại hoặc thuộc Danh mục CTYT nguy hại quy định tại điểm a Khoản 4 điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng CTNH; Sản phẩm thải lỏng không nguy hại. 13 Nước thải y tế là nước phát sinh ra từ toilet, bể tự hoại, nước rửa tay, tắm giặt… của cán bộ công nhân viên bệnh viện, khu nội trú, người nuôi bệnh, người thăm bệnh, người đến khám bệnh. Nước thải sinh hoạt cũng phát sinh từ căn tin, bếp ăn tập thể…. Nước thải y tế đa số được phát sinh từ phòng khám và các phòng phẩu thuật , xét nghiệm và thí nghiệm của các khoa…Các nước thải này đa số chứa nhiều vi khuẩn có thể gây hại đến sức khỏe và gây cảnh quan không đẹp cho bệnh viện.
Nước thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. Nước thải trong hệ thống xử lý nước thải y tế chiếm 80% là nước thải sinh hoạt. Ngoài ra, 20% còn lại là nước từ phẫu thuật, dịch tiết, máu, mủ, khám chữa bệnh. Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải y tế gây ra là các chất hữu cơ; các chất dinh dưỡng của Nitơ (N), Phốtpho (P); các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh.
Các chất hữu cơ có trong nước thải làm giảm lượng Oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống của động – thực vật thủy sinh. Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu Oxy sinh hóa (BOD) của nước thải. Thông thường, để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD. Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh; các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống 14 và đường ống, máng dẫn.
Nước thải Bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, dịch tả,… làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Chất thải rắn y tế có các đặc điểm đặc trưng như sau: Chất thải rắn y tế là những vật chất bị thải bỏ, mang toàn bộ đặc điểm chung của chất thải, tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn. Nguồn gốc phát sinh CTRYT là những vật chất được thải ra từ hoạt động y tế, từ khu vực khám, chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng,giám định y khoa, pháp y, y dược cổ truyền. Bên cạnh đó, CTRYT cũng có thể phát sinh trong các hoạt động y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản; Kiểm nghiệm dược phẩm, mỹ phẩm, sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế; Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, phòng xét nghiệm, nhà hộ sinh, trạm y tế, v.
Đây là đặc điểm phân biệt giữa CTRYT với các chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt khác. Thành phần CTRYT gồm: Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại chất thải rắn khác. Thành phần mang tính vật lý như bông, gạc, khăn, vải trải, quần áo… Các loại giấy; nhựa, thủy tinh, kim loại. Hóa học như thuốc, hóa chất, hóa mỹ phẩm…Sinh học như các bộ phận cắt bỏ từ cơ thể, máu, bệnh phẩm… Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể.
Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ. Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công 15 nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại. Cách phân loại chất thải rắn y tế: Theo nguồn gốc phát sinh CT R YT được chia thành các loại: CTR YT từ phòng thí nghiệm, chất thải dược phẩm và chất thải bệnh phẩm. Nhóm CTRYT từ phòng thí nghiệm gồm các vật cấy, cất giữ các chất gây bệnh, túi máu, găng tay, ống nghiệm, và các chất thải khác từ phòng thí nghiệm để nghiên cứu bệnh tật.
Chất thải dược phẩm gồm thuốc quá hạn sử dụng hoàn trả lại, thuốc phòng bệnh, thuốc bị đổ hoặc hư hỏng hay phải bỏ đi vì không cần giữ các chất trị xạ.