Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết về marketing địa phương, tại sao thu hút lao động là quan trọng trong marketing địa phương, phương pháp thu hút lao động, các nhóm lao động cần thu hút và các yếu tố ảnh hưởng tới từng nhóm đối tượng thu hút. Vai trò của marketing đối với việc phát triển kinh tế của các quốc gia đã được các nhà quản trị và marketing đề cập đến từ nhiều thập niên và marketing thường được xem như là một động cơ trong sự phát triển của một nền kinh tế (Drucker 1958; Kotler & ctg 1993; Kotler & ctg 2002). Tuy nhiên nhiều nước đang phát triển thường không chú trọng đến vai trò của marketing địa phương và thường tập trung nhiều vào các vấn đề sản xuất, tài chính, đầu tư, vv (Reddy & Campbell 1994).
Như chúng ta cũng đã thấy, nhiều quốc gia đã thành công trong việc phát triển kinh tế của quốc gia mình, tuy nhiên cũng không ít quốc gia mà ở đó việc phát triển kinh tế không được như ý muốn. Những khó khăn trong việc phát triển kinh tế của quốc gia này không phải là họ làm sai, nhưng là do họ theo đuổi các chính sách phát triển không còn phù hợp trong nền kinh tế thế giới hiện nay nữa (Fairbanks & Lindsay 1997). Một điểm cần lưu ý là một số quốc gia đã vực được nền kinh tế của mình lên như Nhật Bản, Hàn Quốc…là những quốc gia không có những lợi thế so sánh về các yếu tố sản xuất cơ bản như tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ. Sự tin tưởng quá mức vào lý thuyết lợi thế so sánh do Ricardo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đưa ra từ đầu thế kỷ XIX có thể là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thất bại trong việc phát triển kinh tế địa phương.
Bên cạnh đó, những thách thức trong lĩnh vực cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi các quốc gia, thành phố, địa phương thay đổi cách nhìn của họ. Lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nữa. Lý do là tất cả đều mang tính tương đối. Khi nền kinh tế ngày càng có xu hướng toàn cầu hóa, thì lợi thế trong việc xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ ngày càng mờ nhạt (Fairbanks & Lindsay 1997).
Chính vì vậy mà trong thời đại ngày nay, hoạt động Marketing không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề hay một sản phẩm nào đó mà nó đang được phát triển và chú trọng đến trong phạm vi một quốc gia, một vùng, một địa phương (tỉnh, thành phố). Một cách nhìn về địa phương mà nhiều nhà hoạch định chính sách đều đồng ý đó là việc xem một địa phương như là một thương hiệu gọi là thương hiệu địa phương để tiếp thị nó (Kotler & ctg. Ngày nay, nhiều sinh viên, các nhà chuyên môn có kỹ năng & tay nghề cao.đang có xu hướng tập trung vào các trung tâm thành phố lớn để làm việc và sinh sống. Kinh tế học cũng đã nghiên cứu hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị và hiện tượng chảy máu chất xám của các nước thế giới thứ ba khi những người sinh viên sau khi tốt nghiệp không muốn quay về địa phương làm việc {Torado, 1998}.
Lý do chính được giải thích cho hiện tượng này là cơ hội việc làm và mức thu nhập cao ở thành thị và các nước công nghiệp pháp triển. Các yếu tố tác động đến xu hướng quay về làm việc ở địa phương được phát triển và làm rõ hơn trong lý thuyết marketing địa phương (marketing places) của Kotler, Haider, Rein {1993}… Dưới đây tác giả sẽ đi sâu hơn về lý thuyết này để làm cơ sở cho đề tài của mình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Marketing địa phương và các thành phần của nó 2.1 Địa phương Theo cách nhìn của marketing địa phương thì khái niệm về địa phương được định nghĩa như sau: Là một lãnh thổ, không gian địa lý, chính trị. Là một địa điểm các yếu tố văn hóa, lịch sử.
Là một khu vực hay quốc gia. Là một thành phố trung tâm hay khu vực chung quanh. Là một thị trường với những thuộc tính xác định. Là địa bàn hoạt động của một ngành công nghiệp, quần thể ngành nghề và các nhà cung ứng của chúng.
Là một thuộc tính tâm lý về mối quan hệ của những người bên trong địa phương và quan điểm của họ đối với người bên ngoài.2 Marketing địa phương Marketing địa phương là một kế hoạch tổng hợp đồng bộ giới thiệu về một địa phương với những đặc điểm nổi bật, các ưu thế hiện có và viễn cảnh phát triển lâu dài của địa phương đó nhằm thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh, những người du lịch, những cư dân đến địa phương đó tìm những cơ hội đầu tư kinh doanh hay thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Để thúc đẩy một địa phương phát triển, chúng ta cần sự nỗ lực từ bên trong địa phương và đồng thời cũng cần có sự trợ lực từ bên ngoài để kích thích tiềm năng bên trong. Do vậy, ta cần giới thiệu địa phương ta với khách hàng bên ngoài để họ nhận ra địa phương ta có tiềm năng, nhiều cơ hội làm ăn, nhiều chính sách mà họ cần quan tâm. Để làm tốt công tác tiếp thị ta xem địa phương như là một sản phẩm hàng hóa.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Nhà marketing địa phương Việc xác định nhà marketing địa phương nhiều khi không phải dễ dàng như việc xác định các nhà marketing trong các doanh nghiệp (Kotler & ctg 2002). Tuy nhiên, như đã đề cập, theo quan điểm hiện đại của marketing thì công việc marketing không phải là nhiệm vụ của bộ phận marketing mà là của tất cả các thành viên trong công ty. Nếu vận dụng quan điểm này thì nhà marketing địa phương là tất cả thành viên trong địa phương bao gồm chính quyền địa phương, các doanh nghiệp tại địa phương và cư dân tại địa phương đó. Những thành phần này tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào việc hoạch định kế hoạch marketing cho một địa phương.4 Thị trường mục tiêu của địa phương Cũng như marketing thương hiệu sản phẩm hay một dịch vụ nào đó, nhà marketing địa phương cần xác định thị trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình.
Thị trường mục tiêu của một địa phương có thể chia thành bốn nhóm khách hàng chủ yếu, đó là: Thu hút các nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh Thu hút khách du lịch, hội nghị Thu hút nguồn nhân lực, lao động, cư dân Thu hút các nhà xuất khẩu. Trong bốn thị trường mục tiêu trên, các thị trường về thu hút nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh, thu hút khách du lịch…là các thị trường được ưu tiên hàng đầu của các địa phương và đã có nhiều nghiên cứu về chúng. Do đó, thị trường về thu hút nhân lực, người lao động chưa được nhiều người nghiên cứu và đây chính là thị trường được chọn lọc để nghiên cứu cho đề tài này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Tại sao việc thu hút nguồn nhân lực, lao động hay cư dân là quan trọng trong việc Maketing địa phương Trong những năm gần đây, yếu tố con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội đã hình thành khái niệm mới: nguồn nhân lực hay nguồn lực con người.
Hơn nữa, nguồn nhân lực cũng trở thành những yếu tố thu hút quan trọng trong việc marketing địa phương. Do vậy, tác giả muốn đưa ra những khái niệm về nguồn nhân lực, lực lượng lao động và sự cần thiết phải thu hút nhân lực trong marketing địa phương để làm rõ hơn lý thuyết này như dưới đây.1 Nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực” được sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Ở nước ta, khái niệm này được sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Nguồn nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con người.
Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người cuối cùng cũng trở thành nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực (nguồn lực con người) ngày nay đã trở thành một khái niệm công cụ để điều hành thực thi chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Theo website Việt Báo (2008), trong bài phát biểu khi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà Khoa Học – Công Nghệ của các tỉnh, thành phố phía Bắc, Thủ Tướng Phan Văn Khải cũng đã nhấn mạnh: “Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta”.
Điều khẳng định trên có ý nghĩa rất quan trọng định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm lực nhân lực.2 Lực lượng lao động (LLLĐ) Nhắc đến nguồn nhân lực thì không thể không nói đến lực lượng lao động vì đó chính là một phần không thể thiếu trong khái niệm về nguồn nhân lực. Theo quan niệm của tổ chức quốc tế về lao động (ILO) và quan điểm của các nước thành viên thì LLLĐ (hay nhân khẩu hoạt động kinh tế) là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Theo Tổng cục thống kê Việt Nam (2008) thì LLLĐ bao gồm tất cả những người đang làm việc (bao gồm những người trong tuổi lao động và những người ngoài tuổi lao động) và những người thất nghiệp. Cũng có những nhà khoa học và giới thực tiễn cho rằng, LLLĐ bao gồm những người lao động đang làm việc và những người thất nghiệp.