CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thắng lợi đã đưa Việt Nam bước qua một trang sử mới, làm cơ sở chính trị quan trọng cho nước ta có điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước. Cũng từ đây xây dựng hệ thống pháp luật là vấn đề được Chính phủ, Quốc hội lúc bấy giờ quan tâm cùng với việc củng cố chính quyền mới còn non trẻ.
Từ năm 1945 cho đến trước năm 1989, hàng loạt văn bản quy định liên quan đến tố tụng dân sự đã được ban hành, tuy nhiên các văn bản quy định về tố tụng dân sự trong thời gian này còn rời rạc và chỉ hướng dẫn đối với một số vấn đề nhất định do nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà lịch sử đất nước trong thời gian này trải qua. Năm 1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/1990. Đây là văn bản pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực cao nhất từ năm 1945 đến thời điểm này. Pháp lệnh đã hệ thống hóa và phát triển toàn bộ các quy định về tố tụng dân sự trong các văn bản tản mạn của giai đoạn trước đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tố tụng giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân.2 Ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 5 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Sau một thời gian thi hành cho thấy nhiều quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 vẫn còn bất cập. Để khắc phục tình trạng này, ngày 29/03/2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Đến năm 2015, để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, ngày 25/11/2015 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự mới - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương, Nxb Hồng Đức, trg. 9 Tố tụng dân sự là một lĩnh vực đã tồn tại và phát triển từ lâu, tuy nhiên theo tiến trình của lịch sử thì mỗi một quốc gia dân tộc hay quy định của pháp luật phải có sự thay đổi, tiếp thu để tồn tại và phát triển cao hơn nếu không quy định của pháp luật sẽ bị lỗi thời hay rộng hơn là quốc gia, dân tộc sẽ trở nên lạc hậu và kém phát triển bởi sự yếu kém của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới với những điều kiện hoàn cảnh mới. Chế định tố tụng dân sự là một chế định quan trọng, đã tồn tại từ lâu nhưng xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá xa lạ đối với nhiều người, do đó việc hình thành khái niệm mới liên quan đến xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là điều cần phải được quan tâm và xây dựng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là khái niệm tương đối mới, do đó việc phân tích cũng như xây dựng khái niệm góp phần quan trọng trong việc phát triển đề tài được hoàn thiện hơn.
Tác giả phân tích khái niệm này dựa trên bốn khái niệm chính là “áp dụng”, “phương thức” “xét xử trực tuyến” và “tố tụng dân sự”. Trong đó trọng tâm là nghiên cứu khái niệm “xét xử trực tuyến” và đây cũng là vấn đề được trình bày và phân tích xuyên suốt trong khóa luận này. Theo từ điển Tiếng Việt “Áp dụng” là đem dùng trong thực tế điều đã nhận thức được.3 Áp dụng là một động từ, theo định nghĩa trên thì điều đã nhận thức được ở đây chính là vấn đề xét xử trực tuyến. Phương thức có thể hiểu là cách thức và phương pháp tiến hành một vấn đề nào đó, ở đây chính là cách thức và phương pháp tiến hành hoạt động xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
Theo từ điển Luật học “Xét xử4” là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một số phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính…). Tác giả Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang cho rằng xét xử là hoạt động phán quyết của cơ quan thay mặt Nhà nước nhằm khôi phục trật tự nếu nó bị xâm phạm, hoặc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội.5 “Xét xử trực tuyến” hiện nay đã có một số công trình, bài viết định nghĩa liên quan đến khái niệm xét xử trực tuyến. Trước hết theo quy định tại khoản 2 Điều 1 3 Thành Yến (2021), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Dân trí, trg. 4 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản tư pháp, trg.
5 Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), “Vai trò của hoạt động xét xử của tòa án trong quá trình phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 18, trg. 10 Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 (Nghị quyết số: 33/2021/QH15) về tổ chức phiên tòa trực tuyến quy định về phiên tòa trực tuyến: “Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm. Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong việc xét xử trực tuyến và cũng là quốc gia có nhiều sự tương đồng với Việt Nam cho nên việc tham khảo và nghiên cứu khái niệm xét xử trực tuyến góp phần trong việc hình thành khái niệm áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Theo Quy tắc xử lý nghiệp vụ xét xử trực tuyến số 1753 của Hàn Quốc, có hiệu lực từ ngày 22/7/2020, “Xét xử trực tuyến là việc tiến hành xét xử mà một phần hoặc toàn bộ các bên liên quan trong vụ án không trực tiếp đến phòng xét xử mà tham gia phiên tòa tại địa điểm từ xa được trang bị thiết bị truyền dẫn đồng thời tín hiệu hình ảnh và âm thanh cùng lúc”.
Theo hướng dẫn của Tòa án tối cao bang Victoria (Australia), “Xét xử trực tuyến được hiểu là phiên xét xử được tổ chức bởi các phương tiện nghe nhìn mà không cần sự có mặt trực tiếp của người tham dự”. Khái niệm này tuy có sự diễn đạt ngắn gọn nhưng nội hàm của nó cũng khá tương đồng với khái niệm xét xử trực tuyến trong pháp luật Hàn Quốc mà tác giả đã phân tích ở trên.6 Vào ngày 16 tháng 6 năm năm 2021, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc (TANDTC) đã ban hành “Quy tắc tố tụng trực tuyến cho Tòa án nhân dân” (“Quy tắc tố tụng trực tuyến”, 人民法院 在线 诉讼 规则). Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ban hành một bộ quy tắc tố tụng trực tuyến có hệ thống, áp dụng cho tất cả các vụ án và thủ tục tố tụng của các Tòa án trên toàn quốc. Theo đó tại Điều 1 của quy tắc quy định “Tòa án nhân dân, các bên và những người tham gia tố tụng khác có thể dựa vào nền tảng tố tụng điện tử (sau đây gọi là “nền tảng tố tụng”) để hoàn thành tất cả hoặc nộp đơn trực tuyến, hòa giải, trao đổi chứng cứ, điều tra, xét xử, tống 6 Trương Thế Khoa (2022), Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân, Trường Đại học Luật Thành phố HCM, trg.
thông qua Internet hoặc mạng chuyên dụng. Hoạt động tố tụng trực tuyến có hiệu lực pháp lý như hoạt động tố tụng ngoại tuyến.”7 Cũng có tác giả cho rằng: “Xét xử trực tuyến là hình thức thực hiện công tác xét xử mà các bên tham gia tố tụng không cùng lúc có mặt tại phòng xử án trong thời gian diễn ra phiên tòa, mà tham gia vào phiên tòa tại địa điểm từ xa thông qua các thiết bị điện tử, các phương tiện truyền dẫn âm thanh, hình ảnh có thể kết nối với nhau qua môi trường mạng. Những người tham gia xét xử đảm bảo được trực tiếp theo dõi hình ảnh, âm thanh diễn ra tại phiên tòa và thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai vào cùng một thời điểm.” Bản chất của xét xử trực tuyến là chuyển một phần hoặc toàn bộ hoạt động xét xử từ không gian thực lên không gian số. Trong đó cốt lõi là việc tiến hành, tối ưu và phát triển trên nền tảng số một số hoạt động như: quản lý nội bộ Tòa án; công khai hoạt động của Tòa án; tiến hành các hoạt động tố tụng điện tử; hỗ trợ nâng cao hiệu quả của các chức danh tư pháp.8 “Tố tụng dân sự”9 được từ điển luật học giải thích là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự.
Tố tụng dân sự bao gồm: Khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự; thụ lí vụ việc dân sự; giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án dân sự.