Tổng quan nghiên cứu

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc cải cách mở cửa từ năm 1978, nền kinh tế Trung Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân xấp xỉ 10%/năm, đưa GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 1.000 USD. Tuy nhiên, sự tăng trưởng vượt bậc này cũng làm nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn xã hội gay gắt. Khoảng cách thu nhập thực tế giữa thành thị và nông thôn bị kéo giãn tới mức 5:1 thậm chí 6:1, cùng với khoảng 40 triệu nông dân rơi vào cảnh mất đất canh tác. Đứng trước những thách thức nội tại đe dọa sự ổn định chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI tại Hội nghị Trung ương 4 (tháng 9/2004) và Hội nghị Trung ương 6 (tháng 10/2006) đã chính thức đề ra chiến lược xây dựng "Xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa".

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học mang tên "Xây dựng Xã hội hài hòa XHCN ở Trung Quốc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" do học viên Nguyễn Thị Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Công Tuấn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng triển khai đề án 14 năm (2006 - 2020), chỉ rõ các thành tựu ban đầu, nhận diện những tồn tại nan giải và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an sinh xã hội và môi trường tại Trung Quốc trong giai đoạn 1978 - 2008, đồng thời mở rộng dự báo đến năm 2020. Nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn cao khi lượng hóa các tổn thất sinh thái chiếm từ 8% đến 12% GDP và đưa ra các luận cứ xác đáng nhằm điều hòa lợi ích xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kế thừa và vận dụng hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư và quan điểm phát triển con người toàn diện trong chủ nghĩa xã hội khoa học. Tác giả phân tích sâu sắc tiến trình bản địa hóa lý luận Mác-xít qua Tư tưởng Mao Trạch Đông, Lý luận Đặng Tiểu Bình về xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc được khởi xướng từ năm 1982, Thuyết "Ba đại diện" và Quan điểm phát triển khoa học "lấy con người làm gốc" do Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đề xuất năm 2004.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp có chọn lọc tinh hoa triết học phương Đông cổ đại, nổi bật là tư tưởng "Đại đồng", phương châm ứng xử "Quân tử hòa nhi bất đồng" của Nho gia do Khổng Tử khởi xướng và nguyên lý "Đạo pháp tự nhiên" của Đạo gia. Luận văn cũng đối chiếu với các tư tưởng về "chế độ hài hòa" của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng phương Tây như Saint-Simon, Fourier (1833) và Weitling (1824). Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: "Xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa", "Dân chủ pháp trị", "Công bằng chính nghĩa", "Thành tín hữu ái" và "Phát triển bền vững sinh thái".

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các văn kiện có tính cương lĩnh như Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề quan trọng xây dựng xã hội hài hòa XHCN (tháng 10/2006), các công trình nghiên cứu chuyên sâu của Nhà xuất bản Lịch sử Đảng, Viện Nghiên cứu Trung Quốc và các niên giám thống kê giai đoạn 1978 - 2008.

Cỡ mẫu khảo sát tài liệu chuyên sâu bao gồm 108 công trình sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Quốc tế, Tạp chí Cộng sản cùng 52 báo cáo dữ liệu định lượng của các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới. Phương pháp chọn mẫu tài liệu được tiến hành theo nguyên tắc chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo 4 trụ cột: kinh tế, an sinh xã hội, tổ chức chính trị và môi trường sinh thái. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích lịch sử kết hợp logic và thống kê so sánh là vì quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế - xã hội của Trung Quốc mang tính biện chứng đa tầng, đòi hỏi phải đối chiếu các chuỗi số liệu 10 năm và 20 năm để rút ra quy luật khách quan. Tiến trình thu thập, xử lý và thẩm định thông tin được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến tháng 11/2008 nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học lịch sử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế tạo ra sự phân hóa vùng miền sâu sắc. Tỷ trọng của khu vực miền Đông trong tổng quy mô kinh tế quốc gia đã tăng từ 50% năm 1980 lên 59% năm 2003. Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm giữa miền Đông, miền Trung và miền Tây giai đoạn 1985 - 1990 là 1,39 : 1,05 : 1. Sự chênh lệch này khiến tỷ phần sản xuất công nghiệp của miền Tây tụt giảm từ 12,75% năm 1985 xuống còn 11,91% năm 1990.

Thứ hai, khoảng cách phân phối thu nhập và phân tầng xã hội gia tăng liên tục. Tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa cư dân thành thị và nông thôn tăng mạnh từ 1,8:1 trong thập niên 1980 lên 2,5:1 trong thập niên 1990 và đạt mức 3,2:1 vào năm 2003. Nếu tính đủ các phúc lợi về nhà ở, y tế, giáo dục và giao thông, khoảng cách thực tế giữa thành thị và nông thôn lên tới 5:1 hoặc 6:1. Năm 2004, thu nhập bình quân đầu người tại 5 tỉnh thành phố cao nhất gồm Thượng Hải (8.513 NDT), Bắc Kinh (7.836 NDT), Chiết Giang (7.771 NDT), Phúc Kiến (7.453 NDT) và Quảng Đông (7.264 NDT) cao gấp hơn 3 lần so với 5 địa phương thấp nhất cả nước. Riêng thu nhập của cư dân Thượng Hải năm 2003 đạt 14.867,5 NDT, gấp 3,3 lần so với thành phố Quý Dương.

Thứ ba, an sinh xã hội và thị trường lao động đối mặt với áp lực mất cân đối nghiêm trọng. Năm 2004, Trung Quốc chỉ dành 3,8% GDP cho y tế, thấp hơn đáng kể so với Thái Lan (5,3%), Hàn Quốc (5,4%) và các nước phát triển (9,2%). Khu vực nông thôn với khoảng 800 triệu dân chỉ có 48.000 bệnh xá với 750.000 giường bệnh, bình quân đầu người chỉ nhận được 1/5 các khoản trợ cấp y tế so với thành thị. Mỗi năm có khoảng 24 triệu người cần giải quyết việc làm ở đô thị, trong khi năng lực tạo việc làm mới chỉ đạt 9 triệu chỗ, tạo ra thâm hụt tới 15 triệu việc làm hàng năm.

Thứ tư, suy thoái môi trường sinh thái gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Số liệu thống kê cho thấy 70% sông ngòi toàn quốc và 90% các dòng sông nội đô bị ô nhiễm. Hơn 300 triệu người dân nông thôn thiếu nước sạch và hơn 400 triệu dân thành thị phải hít thở không khí ô nhiễm. Đất sa mạc hóa và rửa trôi chiếm tới 27,3% diện tích lãnh thổ, 16 trong số 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới tập trung tại Trung Quốc, gây ra khoảng 400.000 ca tử vong mỗi năm và làm tổn thất từ 8% đến 12% GDP quốc gia.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế thị trường tự phát và chính sách ưu tiên phát triển dồn lực cho vùng duyên hải miền Đông trong giai đoạn đầu cải cách. Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, giai đoạn GDP bình quân đầu người đạt từ 1.000 đến 3.000 USD thường là thời kỳ các xung đột lợi ích và mâu thuẫn xã hội tích tụ mạnh nhất. Tình trạng di chuyển nguồn lực khiến vùng Tây suy yếu thể hiện rõ qua việc 56,4% trong số 6.638 cán bộ điều chuyển khỏi Tân Cương giai đoạn 1990 - 1992 đều đổ về các thành phố duyên hải miền Đông.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ so sánh cơ cấu công nghiệp 3 miền và bảng đối chiếu ngân sách y tế cho thấy sự bất bình đẳng rõ rệt giữa 800 triệu nông dân với cư dân thành thị. Điều này giải thích vì sao Đảng Cộng sản Trung Quốc phải chuyển đổi mô hình từ "tam vị nhất thể" (kinh tế, chính trị, văn hóa) sang "tứ vị nhất thể" (bổ sung xã hội hài hòa), đặt mục tiêu công bằng chính nghĩa làm nền tảng ổn định đất nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu chính sách phân phối thu nhập và công cụ thuế. Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế cần đẩy mạnh điều tiết thu nhập thông qua chính sách thuế lũy tiến và tăng cường trợ cấp xã hội trực tiếp, phấn đấu thu hẹp khoảng cách thu nhập thực tế giữa thành thị và nông thôn từ mức 5:1 hiện nay xuống dưới 2,5:1 trong lộ trình 10 năm tới.

Thứ hai, nâng cao tỷ trọng ngân sách an sinh xã hội và dịch vụ công. Hội đồng Nhà nước cùng Bộ Y tế cần nâng mức chi tiêu y tế công từ 3,8% GDP lên tối thiểu 6% GDP trong vòng 5 năm; đồng thời bảo đảm bù đắp khoản thiếu hụt quỹ bảo hiểm dưỡng lão dự báo ở mức 110 tỷ USD để chủ động ứng phó với tình trạng già hóa dân số nhanh chóng.

Thứ ba, đẩy mạnh giải quyết việc làm và kiến thiết nông thôn mới. Bộ Lao động và An sinh Xã hội cần triển khai các gói kích cầu sản xuất phi công hữu, mở rộng chỉ tiêu tạo việc làm mới từ 9 triệu lên ít nhất 14 triệu chỗ làm mỗi năm, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới mức 4,5% trong giai đoạn kế hoạch 5 năm tiếp theo.

Thứ tư, thực thi nghiêm ngặt các quy chuẩn bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái. Bộ Bảo vệ Môi trường cần áp dụng chế tài xử phạt nặng đối với các cơ sở gây ô nhiễm, đặt chỉ tiêu xử lý chất thải sinh hoạt đô thị đạt trên 80% (thay cho mức dưới 20% trước đây) và giảm diện tích lưu vực sông bị ô nhiễm từ 70% xuống dưới 30% trước mốc thời gian năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách công và cơ quan quản lý nhà nước về an sinh xã hội. Luận văn cung cấp mô hình thực chứng về giải quyết bài toán già hóa dân số khi tỷ lệ lao động trên một người nghỉ hưu giảm mạnh từ 10:1 xuống còn 6:1 vào năm 2020 và 3:1 vào năm 2050, hỗ trợ xây dựng chính sách phân bổ ngân sách hài hòa.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu Châu Á học, Trung Quốc học và Quan hệ quốc tế. Tài liệu mang đến hệ thống văn kiện chính thống và phân tích chuyên sâu về tiến trình cải cách thể chế của đất nước có quy mô hơn 1,3 tỷ dân dưới thời thế hệ lãnh đạo thứ tư.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Triết học, Xã hội học và Kinh tế phát triển. Đề tài đóng vai trò nguồn tư liệu giá trị trong việc phân tích bẫy thu nhập trung bình (ngưỡng 1.000 - 3.000 USD/người) và phương thức kết hợp giữa đạo lý Nho gia với lý luận Mác-xít.

Nhóm thứ tư là các tổ chức bảo tồn sinh thái và viện nghiên cứu phát triển bền vững. Các số liệu định lượng về tổn thất môi trường chiếm 8% - 12% GDP và 70% sông ngòi ô nhiễm là luận cứ xác đáng phục vụ nghiên cứu mô hình kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm Xã hội hài hòa XHCN được Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức đề ra từ thời điểm nào và bao gồm mấy đặc trưng cơ bản? Khái niệm này xuất hiện chính thức tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XVI (tháng 9/2004) và được nâng lên thành lý luận chỉ đạo tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XVI (tháng 10/2006). Mô hình gồm 6 đặc trưng then chốt: Dân chủ pháp trị, Công bằng chính nghĩa, Thành tín hữu ái, Tràn đầy sức sống, Ổn định có trật tự, và Con người chung sống hài hòa với thiên nhiên để phục vụ hơn 1,3 tỷ dân.

Thực trạng phân hóa thu nhập giữa thành thị và nông thôn tại Trung Quốc được phản ánh qua các con số nào? Tỷ lệ chênh lệch thu nhập danh nghĩa tăng từ 1,8:1 trong những năm 1980 lên 3,2:1 năm 2003. Khi cộng gộp các ưu đãi về nhà ở, y tế và trợ cấp giáo dục ở đô thị, khoảng cách thực tế lên tới 5:1 thậm chí 6:1, cùng với hơn 40 triệu nông dân chịu thiệt thòi khi bị thu hồi đất nông nghiệp.

Khủng hoảng môi trường tại Trung Quốc trong giai đoạn nghiên cứu gây ra các tác động định lượng nào? Sự đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đã làm ô nhiễm 70% sông ngòi, 90% nước đô thị và khiến 16 trong 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới thuộc về Trung Quốc. Tình trạng này cướp đi sinh mạng của khoảng 400.000 người mỗi năm và gây tổn thất kinh tế thường niên chiếm từ 8% đến 12% tổng GDP.

Luận văn đã kế thừa những giá trị triết học cổ điển nào để làm sáng tỏ khái niệm xã hội hài hòa? Tác giả đã kết hợp hài hòa quan niệm đạo đức Nho giáo của Khổng Tử về chuẩn mực "Hòa nhi bất đồng", lý tưởng xã hội "Đại đồng" với tư tưởng "Đạo pháp tự nhiên" của Đạo gia. Sự kết hợp này tạo nên hệ quy chuẩn điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người và con người với giới tự nhiên.

Việt Nam có thể đúc kết được bài học gì từ thực tiễn xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc? Bài học cốt lõi là không được chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà bỏ quên công bằng xã hội; phải chủ động đầu tư ngân sách cho y tế cao hơn mức 3,8% GDP và thiết lập mạng lưới an sinh toàn diện ngay khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 1.000 USD để phòng ngừa bất ổn xã hội.

Kết luận

Năm điểm đúc kết trọng tâm từ công trình nghiên cứu:

  • Xây dựng xã hội hài hòa XHCN là bước chuyển đổi chiến lược mang tính quy luật, đưa cơ cấu phát triển từ "tam vị nhất thể" sang "tứ vị nhất thể" toàn diện.
  • Khoảng cách thu nhập thực tế giữa thành thị và nông thôn vượt mức 5:1 là nhân tố gây bất ổn xã hội hàng đầu cần phải xử lý bằng các chính sách tài khóa công.
  • Chi phí đánh đổi môi trường chiếm 8% - 12% GDP đòi hỏi sự chuyển hướng dứt khoát sang mô hình kinh tế tuần hoàn và phát triển sinh thái sạch.
  • Khủng hoảng nhân khẩu học với tỷ lệ người phụ thuộc dưỡng lão giảm còn 6:1 vào năm 2020 và 3:1 vào năm 2050 đòi hỏi củng cố gấp nguồn quỹ an sinh xã hội.
  • Thực thi 6 nguyên tắc lấy con người làm gốc và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng là tiền đề bảo đảm thành công cho công cuộc hiện đại hóa.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa lý luận và kiểm chứng thực tiễn một cách toàn diện về mô hình xã hội hài hòa trong giai đoạn GDP vượt 1.000 USD. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đánh giá kết quả thực tế của đề án đến mốc 2020 và xây dựng các hàm ý chính sách an sinh cho Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để có thêm những góc nhìn phân tích chuyên sâu về quản trị phát triển xã hội bền vững.