Chương 1 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ Xà HỘI TỈNH GIA LAI 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới ở Bắc Tây Nguyên, có tọa độ địa lý từ 12058’40”đến 14037’00” độ vĩ Bắc, từ 107 027’23” đến 108054’40” độ kinh Đông, diện tích tự nhiên 15.536192 km2, chiếm 28,45% diện tích vùng Tây Nguyên và chiếm tỉ lệ khoảng 4,7% diện tích của cả nước [6, tr. Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum; Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; Tây giáp tỉnh Rotanah Kiri (thuộc vương quốc Campuchia) với đường biên giới chung dài trên 90 km.
Toàn tỉnh hiện có 411 km quốc lộ : quốc lộ 14 là tuyến đường dọc chạy theo hướng Bắc Nam. Các tuyến đường ngang chạy theo hướng Đông Tây : quốc lộ 19 và quốc lộ 25. Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh): chạy theo hướng Bắc- Nam, là con đường huyết mạch của Tây Nguyên. Trên đất Gia Lai quốc lộ này có tổng chiều dài gần 120 km.
Từ tỉnh Gia Lai ra Bắc, Quốc lộ 14 nối khu vực với thành phố Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam, Quảng Ngãi). Về phía Nam, quốc lộ này nối Gia Lai với các tỉnh Nam Tây Nguyên (Đak Lăk, Đak Nông…), miền Đông Nam Bộ đến thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài 540 km. Quốc lộ 19: chạy theo hướng Đông – Tây, quốc lộ này được hình thành trên cơ sở con đường giao thương cổ giữa bộ phận cư dân ở vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ với các tỉnh Bắc Tây Nguyên. Chạy về phía Đông quốc lộ này đi qua 4 huyện Mang Yang, Đắc Đoa, Đăk Pơ, An Khê nối thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai) với thành phố Quy Nhơn (Bình Định) với tổng chiều dài 180 km.
Về phía Tây, quốc lộ 19 kéo dài đến Đông Bắc vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh của huyện Đức Cơ. 11 Quốc lộ 25: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai quốc lộ này có chiều dài 111 km, bắt đầu từ quốc lộ 1 (tỉnh Phú Yên) qua 3 huyện của tỉnh Gia Lai là: Krông Pa, Ayun Pa, Chư Sê nối Gia Lai với quốc lộ 14 rồi vào trung tâm phố Pleiku. Đây cũng là tuyến đường quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các tuyến đường liên tỉnh, đường huyện, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói chung và công tác XĐGN nói riêng.
Tỉnh Gia Lai đã đầu tư xây dựng 11 tuyến tỉnh lộ đi qua địa bàn huyện và mạng lưới đường liên huyện, đường liên thôn, liên xã nối 17 đơn vị hành chính nội tỉnh với 222 trung tâm các xã, phường với nhau tạo thành mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh nối với mạng lưới đường quốc gia với các tuyến đường trong Tam giác phát triển 3 nước Việt Nam - Lào - Cămpuchia. Xe buýt: Hiện nay, đã có tuyến xe buýt đến tất cả các điểm thuộc thành phố Pleiku và từ thành phố Pleiku đi đến trung tâm hầu hết các huyện trong tỉnh góp phần đáng kể vào việc đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Đường hàng không: Bằng máy bay cỡ trung A320, hàng ngày có các chuyến bay từ Gia Lai đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và ngược lại. Cụm cảng Hàng không Pleiku vẫn đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệ thống sân bãi và cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu là cửa ngõ duy nhất nối khu vực Bắc Tây Nguyên với mạng lưới hàng không của cả nước Vị trí địa lý của Gia Lai cùng hệ thống giao thông huyết mạch tạo cho tỉnh vị thế đặc biệt quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đối với các tỉnh Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ và cả nước.
Đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất, giao lưu trao đổi hàng hóa của nhân dân trong tỉnh góp phần XĐGN nâng cao chất lượng cuộc sống. Tài nguyên thiên nhiên Gia Lai là tỉnh có địa hình tương đối đa dạng với phần lớn diện tích nằm trên sườn Tây dãy Trường Sơn. Bao gồm các hệ thống đồi núi, cao nguyên và các miền trũng thung lũng xen kẽ. Địa hình núi ở Gia Lai phân cách mạnh, phần lớn nằm ở phía Bắc.
Từ dãy Kông Kah King thuộc địa bàn huyện Kbang, chạy về phía Nam núi chia thành 2 hệ. Hệ núi thuộc dãy An Khê: là dãy núi khá đồ sộ với chiều rộng từ 30 km- 40 km chạy dọc phía Đông tỉnh từ sông Trà Khúc đến tận thung lũng sông Ba dài 175 km tạo thành dải phân cách tự nhiên giữa Gia Lai với các tỉnh tiếp giáp ven biển miền Trung với các đỉnh Kông (núi) Mroui (cao 1.096 m) rồi thấp dần với các đỉnh dưới 1.000 m và bị đứt gẫy đột ngột tại đèo An Khê (500 m), tiếp đó được nâng lên ở phía Nam tạo vành đai viền lấy cách đồng An Khê tại huyện Kông Chro với các đỉnh Kông Hde (1.029 m), Kông Wang La Xiom (1.309 m) và thấp dần khi vào vùng đồng bằng Ayun Pa, Krông Pa. Hệ núi thuộc dãy Chư Gu (Mang Yang): có những đỉnh cao như Kông Lak (1.568 m), Kông Yor Gauan (1. bị đứt gẫy tại đèo Mang Yang (830 m) và lại vút cao ở dãy Kông Chiêng với các đỉnh trên dưới 1.500 m, chia Gia Lai thành 2 phần là Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn với những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng khác biệt.
Cao nguyên: Nếu phía Bắc Gia Lai là vùng núi cao thì từ trung tâm về phía Nam Gia Lai lại là cả một vùng cao nguyên khá bằng phẳng và màu mỡ, nằm trong đới kiến tạo chung của khối Kon Tum cổ với nền mácma axit vững chắc. Cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía Đông Trường Sơn, có diện tích khoảng 1.250 km2, trải dài từ Nam huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) và chiếm gần trọn địa bàn huyện Kbang. Địa hình cao ở phía Bắc (900 m) thấp dần xuống phía 13 Nam (500 m). Bề mặt tương đối bằng phẳng với độ cao tương đối từ 50-80 m và độ dốc trung bình từ 12 - 180.
Cao nguyên Pleiku là một cao nguyên hình vòm, cao ở trung tâm và giảm dần ra phía rìa, đỉnh là núi Hàm Rồng (cao 1. Toàn bộ cao nguyên có diện tích 4.550 km2 và là một trong hai cao nguyên rộng lớn nhất Tây Nguyên. Cao nguyên này cũng có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, với phần trung tâm là khu vực thành phố Pleiku và vùng phụ cận kéo dài từ Nam thị xã Kon Tum xuống tận khối Chư Păh (922 m) và từ chân đèo Mang Yang sang tận biên giới Việt Nam - Campuchia. Bề mặt cao nguyên được phủ một lớp bazan.
Vì bazan ở đây có cấu trúc dạng khối nên rất dễ bị phá hủy và thường tạo thành lớp vỏ phong hóa dày hàng chục mét, hình thành trên đó những lớp đất dày, tơi xốp, màu mỡ. Còn ở phía trong thì nhấp nhô dấu tích của những ngọn núi lửa đã tắt mà tiêu biểu là ngọn núi Chư Hđrung (hay còn được gọi là núi Hàm Rồng), Chư Á, Chư Prông… Các miền trũng: hầu hết đều nằm ở phía Đông của tỉnh như cánh đồng An Khê, vùng trũng Cheo Reo- Phú Túc. Hiện nay, vùng thung lũng này là khu vực phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, thuốc lá, vừng, đậu và bông của tỉnh Gia Lai. Vùng trũng An Khê rộng 15 km, dài 45 km với diện tích 1.312 km2, kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Ranh giới phía Đông và Tây của vùng là 2 hệ núi chạy qua đèo An Khê và đèo Mang Yang. Phía Bắc giáp cao nguyên Kon Hà Nừng, Nam giáp vùng trũng Cheo Reo- Phú Túc và vùng núi thấp Chư Trian. Do hoạt động hoạt động xâm thực của sông Ba và phụ lưu mà bề mặt địa hình tương đối bằng, thường cắt thành vách vào các bề mặt san bằng cổ hơn với độ dốc trung bình từ 8 - 150. Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm trọn trong địa hào sông Ba với diện tích 1.474 km2, vùng này là sự tiếp nối vùng trũng An Khê về phía Đông Nam tỉnh.
Cũng như vùng trũng An Khê, địa hình của vùng cũng là kiểu địa hình 14 đồng bằng tích tụ - bóc mòn với các dạng địa hình bậc thềm và bãi bồi chiếm diện tích chủ yếu. Đất đai tỉnh Gia Lai có 26 loại đất, gồm 7 nhóm chính. Theo kết quả nghiên cứu dự án SMCN/2002/085 do Viện Khoa học Kỹ thuật khảo sát [30, tr. Đất đai của tỉnh được phân loại như sau: - Nhóm đất phù sa: có diện tích 64.218 ha, chiếm 4,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước, tầng đất dày, phù hợp cho phát triển cây nông nghiệp, đặc biệt là cây lúa nước và cây hoa màu lương thực.
- Nhóm đất xám: có diện tích 364.638 ha, chiếm 23,5% diện tích tự nhiên, được hình thành trên nền phù sa cổ, đá mác ma axít và đá cát, đất có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém nên nghèo dinh dưỡng, thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày hoặc trồng rừng để bảo vệ đất. Loại đất này bổ dọc theo sông Ba, sông Ayun, An Khê, Đak Pơ, Ayun Pa. - Nhóm đất mùn vàng đỏ: diện tích 164.751 ha, chiếm 5,8% tổng diện tích tự nhiên. Đây là nhóm có nhiều loại đất có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là loại đất đỏ trên đá bazan, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh.
Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày: chè, cà phê… - Nhóm đất đỏ vàng: là loại đất chiếm diện tích lớn nhất với 765.433 ha, chiếm 48,8% tổng diện tích tự nhiên. Đất đỏ vàng tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hơ Nừng. Đây là nhóm đất rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, yêu cầu độ phì cao như cà phê, chè, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực. - Nhóm đất đen và nhóm đất thung lũng dốc tụ: chiếm 6,8% diện tích tự nhiên, ở độ cao 300-700 m.
Phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư 15 Prông, Chư Sê và Đức Cơ. Thích hợp cho việc trồng lúa nước, hoa màu và các loại rau. - Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: diện tích 164.751 ha, chiếm 10,60% diện tích tự nhiên.