Chương 1 QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. QUAN NIỆM VỀ CÔNG BẰNG TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1. Khái quát về công bằng xã hội trong lịch sử triết học trước Mác Công bằng là một khái niệm về cái cần thiết phù hợp với những quan niệm về bản chất con người và những quyền không tách rời của nó. Công bằng – phạm trù đạo đức pháp quyền và cũng đồng thời là ý thức chính trị - xã hội [63, 650].
Công bằng hàm chứa trong mình đòi hỏi về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của các cá thể khác nhau (các nhóm xã hội) trong đời sống xã hội và thực trạng xã hội của họ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của họ, giữa hành vi và đánh giá hành vi, giữa lao động và ban thưởng, giữa tội ác và trừng phạt, giữa phụng sự và vinh danh. Sự không phù hợp trong những tương quan ấy gọi là bất công. Theo nội dung trên, phạm trù công bằng liên hệ với phạm trù bình đẳng xã hội, tức là một trong những lý tưởng cơ bản (cùng với tự do) về xã hội công bằng [63, 557]. Cách lý giải đầu tiên về công bằng trong lịch sử ý thức xã hội gắn liền với việc thừa nhận việc không được xâm phạm các chuẩn mực của xã hội nguyên thủy.
Công bằng theo đó là sự tuân thủ đơn giản trật tự xã hội. Trong thực tiễn xã hội cách hiểu sau đây về công bằng mang ý nghĩa như công bằng “tiêu cực” – đòi hỏi trừng phạt vì sự vi phạm chuẩn mực chung; một trong những biểu hiện thực tế của nó là thiết chế trừng phạt theo kiểu thị tộc. Cách hiểu về công bằng tích cực thể hiện ở sự phân chia lợi ích (nhất là lợi ích vật chất) vào thời kỳ cá nhân tách khỏi thị tộc. Trước tiên nó có ý nghĩa là sự bình đẳng của tất cả mọi người trong việc 7 sử dụng các phương tiện của cuộc sống và các quyền lợi.
Với sự xuất hiện tư hữu và sự bất bình đẳng thì công bằng bắt đầu tách khỏi bình đẳng, chứa đựng sự khác nhau trong thực trạng của các nhóm xã hội và các cá nhân, phù hợp với phẩm giá của họ. Platôn (Platon) trong “Nền cộng hòa” đã đưa ra ý tưởng về xây dựng một nhà nước công bằng. Trong bốn đức hạnh cơ bản của con người – khôn ngoan, can đảm, tiết độ, công bằng – thì công bằng được xem là đức hạnh xã hội, vì nó thể hiện trong đời sống của cá nhân lẫn cộng đồng, đóng vai trò thước đo, sự thẩm định tính chất của thiết chế nhà nước. Nhà nước công bằng là nhà nước mà ở đó luôn tuân thủ “trật tự tự nhiên của sự vật”.
Nhà nước công bằng nhất thiết phải được xây dựng từ những thành tố công dân khác nhau, chiếm những địa vị xã hội khác nhau, thực hiện những chức phận khác nhau tùy theo năng lực của mình. Sự xác định các thành tố hay các đẳng cấp trong xã hội, dựa trên sự phân chia cơ cấu linh hồn ra ba phần: a) các triết gia – cai trị gia, hay đẳng cấp vàng, tương ứng với phần lý trí của linh hồn; b) các chiến binh, hay đẳng cấp bạc, tương ứng với phần ý chí của linh hồn; c) những người lao động chân tay và buôn bán, hay đẳng cấp đồng và sắt, tương ứng với phần dục vọng của linh hồn[52, 124]. Trong một nhà nước công bằng ai cũng có chỗ của mình, làm đúng công việc của mình, thực hiện đúng chức phận của mình. Nhà nước công bằng xem ổn định và trật tự là điều kiện của phát triển.
Platon chủ trương xây dựng một thiết chế nhà nước mới mà theo ông vừa đảm bảo sự bình đẳng xã hội (cộng đồng lý tưởng), vừa cho phép sự tồn tại bất bình đẳng về hình thức trong quan hệ giữa các đẳng cấp với nhau nhằm duy trì những thang bậc xã hội cần thiết, tránh tình trạng vô chính phủ như trong nền dân chủ. Công bằng trong quan niệm của Arixtốt (Aristotle) là sự thực hiện một hành vi vô tư, không vụ lợi và tự nguyện, còn bất công là sự tương phản với nó, nghĩa là muốn làm nhiều hơn cái phần có quyền được có, đồng thời gây thiệt hại cho người khác. Do vậy, trong các đức hạnh mà Arixtốt đề cập đến như can 8 đảm, tiết độ, hào phóng. thì công bằng là đức hạnh quan trọng nhất.
Nhưng công bằng khác với đức hạnh vì, một là, nó đề cập đến quan hệ của con người với cả chính mình lẫn những người khác, trong đó, phần quan hệ với những người khác được chú trọng hơn; hai là, nó còn thuộc về lĩnh vực luật pháp, được xét đoán dưới góc độ thực thi pháp luật. Aristote lần đầu tiên phân chia công bằng thành ba loại: 1. công bằng phân phối, tức phân phối của cải vật chất theo giá trị đóng góp của mỗi cá nhân, tương phản với nó là bất công, tức sự thiếu công bằng trong phân phối; 2. công bằng giao hoán, nghĩa là sự sắp xếp công việc hợp lý giữa các cá nhân; 3.
công bằng trong trừng phạt, tức phế bỏ sự thái quá và bất cập trong quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác, sao cho giữa lợi ích và thiệt hại có những điều hòa thỏa đáng. Người làm luật và người thi hành luật ở trường hợp nào cũng đặt lương tri và nhân phẩm lên hàng đầu[52, 181]. Trong các loại công bằng trên thì ông dành cho sự công bằng phân chia theo tỷ lệ tương xứng một ý nghĩa đặc biệt. Cùng với cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, vấn đề công bằng trở thành khẩu hiệu của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp thống trị, bóc lột.
Hobbes) trong tác phẩm “Về công dân” và “Leviathan” (phần 2 – Về Nhà nước) đã đưa ra học thuyết về hai trạng thái của xã hội – trạng thái tự nhiên (Status naturalis), chưa có nhà nước, và trạng thái công dân (Status civilis), học thuyết về “vật thể”, về tương tác của các mặt đối lập trong thế giới. Nhà nước là vật thể nhân tạo, cái đối lập với trạng thái tự nhiên của con người. Hình ảnh thủy quái “Leviathan” cho thấy nhà nước đại diện cho quyền lực tối cao và các công dân; vì người phục tùng nó thông qua hệ thống luật pháp. Luật và quyền tự nhiên trùng hợp với nhau về lối sống.
Tuy nhiên các luật tự nhiên với tính khách quan, tính công bằng cùng các yếu tố đạo đức rút ra từ chúng, không phải là “luật” theo nghĩa máy móc của từ đó, mà là những định hướng chung, đưa con người đến hòa bình, sự thân thiện và sự tuân 9 phục. Luật tự nhiên là luật vĩnh hằng. Nhà cai trị và người xử án đến rồi đi, nhưng luật vẫn còn mãi, vì nó là luật do Thượng đế tạo ra cho nhân loại. Luật tự nhiên là luật không cần văn bản hóa, không cần được tuyên bố.
Trong lương tri mỗi người đều tồn tại một luật thiêng liêng, thể hiện bản chất “người” – một sinh vật có trí tuệ và đạo đức. Luật tự nhiên, do đó, cũng là luật đạo đức. Nhà nước ra đời, chấm dứt tình trạng “người với người là chó sói”, “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, cũng đồng thời làm cho luật tự nhiên trở thành luật công dân hiện thực, luật thành văn, luật được thể chế hóa ở quyền lực tối cao. Sự vô tư, công bằng và đức hạnh trở thành chuẩn mực chung cho toàn xã hội, phản ánh trạng thái công dân thay thế trạng thái tự nhiên ngoài xã hội, vượt qua sự đố kỵ, thù địch và tình trạng hỗn loạn[4, 91-92-93].
Locke) thừa nhận quan điểm của Hốpxơ về sự thay thế trạng thái tự nhiên bằng trạng thái công dân, tức nhà nước. Tuy nhiên nếu Hốpxơ mô tả trạng thái tự nhiên của con người như trạng thái chiến tranh của tất cả chống lại tất cả, thì Lốccơ xem nó như thiên đường mặt đất, trạng thái tự do và bình đẳng của mọi người, cuộc sống hòa bình, phù hợp với các quy luật tự nhiên. Các nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII trong cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên quyền của nhà thờ và nhà nước phong kiến đã đóng vai trò đáng kể vào việc xác lập tư tưởng về quyền tự nhiên và tự do cá nhân, trạng thái công dân. Họ là những nhà thần luận tự nhiên, đã đồng nhất quy luật của Thượng đế với quy luật của tự nhiên, gắn các quyền “tự nhiên” với quyền thiêng liêng.
Sự đồng nhất này có tác động tích cực đối với cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội. Cái gì là tự nhiên đối với con người cũng phù hợp với ý chí Thượng đế. Chẳng hạn như Vônte (Voltaire) một mặt thừa nhận sự cần thiết của niềm tin tôn giáo, mặt khác xem Thượng đế như minh chứng cho công bằng và bình đẳng xã hội[4, 98]. Rousseau) cho rằng nguyên nhân chính của bất bình đẳng xã hội là sự phân hóa giàu nghèo, sang hèn, kẻ đi tước đoạt và người bị tước đoạt.
10 Trong tác phẩm “Luận về khoa học và nghệ thuật”, Rútxô tuyên bố “giàu có kia gây ra nghèo khổ này”. Trong tác phẩm “Luận về nguồn gốc và bản chất của sự bất bình đẳng giữa người với người”, Rútxô đã phân biệt ba cấp độ của bất bình đẳng. Cấp độ đầu tiên là bất bình đẳng về tài sản và sở hữu. Cấp độ tiếp theo – bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Nhà nước ra đời với mục đích điều hòa luôn mâu thuẫn, nhưng dần dần biến thành công cụ của một giai cấp, đàn áp các giai cấp khác. Cuối cùng – bất bình đẳng đạt đến cấp độ cực đoan, khi con người trở thành nạn nhân của kẻ chuyên quyền, nhà độc tài. Bên cạnh đó ông còn đưa ra quan niệm về khế ước xã hội và sự tuyệt vọng của quần chúng trước kẻ phá hoại khế ước. Vậy thế nào là khế ước xã hội? Rútxô viết: “Thực chất của khế ước xã hội là gì? Với khế ước xã hội , - Rútxô nhấn mạnh, - con người mất đi cái tự do thiên nhiên và cái quyền hạn chế được làm những điều muốn làm mà làm được; nhưng mặt khác, con người lại có quyền tự do dân sự (công dân) và quyền sở hữu cái mà anh ta có.
Công ước cơ bản (Pacte fondamental) không phá bỏ sự bình đẳng tự nhiên, nó xây dựng sự bình đẳng tinh thần và hợp pháp để thay thế cái mà thiên nhiên đã làm cho con người không bình đẳng về thể lực.